Tìm hiểu về ung thư biểu mô tế bào gan

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nội ung bướu – Khoa Nội ung bướu – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Bác sĩ có nhiều kinh nghiệm trong khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư.

Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là loại ung thư gan nguyên phát phổ biến và thường xảy ra ở những người mắc bệnh gan mạn tính, như xơ gan do viêm gan B hoặc nhiễm viêm gan C.

1. Thế nào là ung thư biểu mô tế bào gan?

Ung thư biểu mô tế bào gan là một loại ung thư khởi phát từ gan. Nó khác với ung thư gan “thứ phát”, tức là các tế bào ung thư từ các bộ phận khác của cơ thể di căn đến gan. Nếu được phát hiện sớm thì bệnh nhân sẽ có khả năng được chữa khỏi bằng phẫu thuật hoặc cấy ghép.

2. Ai có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan?

Rất khó để có thể xác định chính xác các nguyên nhân gây ra tất cả các trường hợp ung thư biểu mô tế bào gan, nhưng ở một số nhóm người thì khả năng xuất hiện ung thư biểu mô tế bào gan sẽ cao hơn so với những người bình thường. Nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn ở những nhóm người sau:

Những người mắc bệnh gan kéo dài, bệnh nhân bị xơ gan: Xơ gan xảy ra khi các tế bào gan bị tổn thương và thay thế bằng mô xơ. Nó được bắt nguồn từ các nguyên nhân như nhiễm viêm gan B hoặc C, uống rượu, một số loại thuốc và quá nhiều chất sắt được lưu trữ trong gan.

Những người bị xơ gan do nhiễm viêm gan B hoặc viêm gan C: Ung thư tế bào gan có thể bắt đầu sau khi bị viêm gan. Để xác định một bệnh nhân có virus viêm gan B hoặc C trong cơ thể hay không thì cần phải xét nghiệm máu.

Người có thói quen uống rượu thường xuyên và những người có sự tích tụ mỡ trong gan: Uống nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày trong nhiều năm làm tăng nguy cơ ung thư tế bào gan. Bạn càng uống nhiều rượu, nguy cơ mắc bệnh của bạn càng cao.

Người béo phì và tiểu đường: Đây là hai điều kiện làm tăng nguy cơ ung thư gan. Béo phì có thể dẫn đến tình trạng gan nhiễm mỡ và có thể dẫn đến ung thư biểu mô tế bào gan. Đối với bệnh nhân bệnh tiểu đường thì nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan cao hơn có thể là do nồng độ insulin trong cơ thể bệnh nhân ở mức cao dẫn đến tổn thương gan.

Béo phì

Người dư sắt và có Aflatoxin trong cơ thể: Những người trong tình trạng có quá nhiều chất sắt được lưu trữ trong gan và các bộ phận khác trong cơ thể thì có nhiều khả năng có thể phát triển thành ung thư tế bào gan. Aflatoxin là một chất có hại này được tạo ra bởi một số loại nấm mốc có ở đậu phộng, ngô, và các loại hạt và ngũ cốc khác. Nó có thể là nguyên nhân gây ra ung thư tế bào gan.

3. Triệu chứng của ung thư biểu mô tế bào gan

Bệnh nhân có thể không có bất kỳ triệu chứng nào khi ung thư biểu mô tế bào gan đang ở giai đoạn đầu. Khi ung thư phát triển, bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều triệu chứng như sau:

  • Đau ở phần thượng vị và hạ sườn phải
  • Cảm giác xuất hiện một khối hoặc cảm giác tức nặng ở thượng vị
  • Đầy hơi hoặc chướng bụng
  • Mất cảm giác ngon miệng và cảm giác đói
  • Sụt cân
  • Yếu hoặc mệt mỏi nhiều
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Da và mắt vàng
  • Nhu động ruột yếu, phân và nước tiểu sẫm màu
  • Sốt.

Vàng da và tròng trắng mắt (vàng da)

4. Cách chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan

Các xét nghiệm và hình ảnh được sử dụng để chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan bao gồm:

  • Xét nghiệm máu để đo chức năng gan: Bác sĩ sẽ lấy mẫu máu để kiểm tra xem trong mẫu đó có protein gọi là AFP không. Trẻ em mới sinh thường có mức AFP cao, nhưng nó sẽ giảm ở hầu hết mọi người ngay sau khi sinh. Nếu trong máu có lượng AFP cao, đó có thể là dấu hiệu của ung thư gan.
  • Các xét nghiệm hình ảnh như CT và MRI: Bác sĩ có thể sẽ tiến hành siêu âm, chụp CT hoặc MRI để tìm khối u trong gan. Siêu âm, chụp CT, MRI để có thể thấy hình ảnh của gan
  • Sinh thiết gan: trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô gan và kiểm tra nó dưới kính hiển vi để tìm các tế bào ung thư. Điều này có thể được thực hiện bằng cách lấy một số mô gan bằng kim đã được đặt xuyên qua da và đưa vào gan của bệnh nhân. Trước khi thực hiện, bệnh nhân đã được gây tê vùng đó để không cảm thấy đau đớn khi lấy mẫu sinh thiết.

Sinh thiết gan

5. Điều trị ung thư biểu mô tế bào gan

Tùy thuộc vào size, vị trí của tế bào ung thư, năng lực hoạt động giải trí của gan, điều kiện kèm theo sức khỏe thể chất của người bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn hướng điều trị tương thích cho từng bệnh nhân. Các chiêu thức điều trị thường được vận dụng gồm có :

5.1 Phẫu thuật

Phẫu thuật để loại bỏ ung thư và một phần mô khỏe mạnh bao quanh nó có thể là một lựa chọn cho những người bị ung thư gan giai đoạn đầu có chức năng gan bình thường.

Phẫu thuật ghép gan là cắt bỏ toàn bộ gan và thay thế nó bằng một lá gan khỏe mạnh từ người hiến tặng. Đây có thể là một lựa chọn hữu hiệu nếu các tế bào ung thư của người bệnh chưa di căn ra ngoài gan.

Ghép gan là một phẫu thuật lớn và gan hiến tặng cần lấy từ người có cùng nhóm máu và có kích thước cơ thể tương tự với người tiếp nhận. Sau khi tiến hành ghép gan, bệnh nhân có thể cần phải ở lại bệnh viện tối đa 3 tuần sau khi phẫu thuật và có thể mất 6 tháng đến một năm để có thể trở lại lối sống thường ngày. Sau khi cấy ghép, bệnh nhân sẽ cần dùng thuốc ngăn cơ thể từ chối gan mới.

Phẫu thuật

5.2 Kỹ thuật nhiệt động (Cryoablation) và cắt bỏ tần số vô tuyến

Tiêu diệt tế bào ung thư bằng nhiệt là sử dụng nhiệt độ cực cao hoặc cực lạnh để tiêu diệt tế bào ung thư. Đây là phương pháp được khuyến nghị sử dụng cho những người không thể thực hiện phẫu thuật.

Trong chiêu thức này, bác sĩ sẽ hủy hoại khối u của bằng cách ngừng hoạt động nó bằng đầu dò sắt kẽm kim loại mỏng mảnh. Khi bệnh nhân đã được gây mê, bác sĩ sẽ đặt đầu dò vào khối u và cung ứng một loại khí lạnh giết chết những tế bào ung thư. Một giải pháp tương tự như, được gọi là đốt sóng cao tần, sử dụng dòng điện để hủy hoại ung thư bằng nhiệt .

5.3 Xạ trị

Liệu pháp xạ trị sử dụng năng lượng từ tia X hoặc proton có thể được khuyến nghị nếu bệnh nhân không muốn hoặc không thể phẫu thuật. Bác sĩ sẽ dùng một loại xạ trị chuyên dụng, được gọi là xạ trị định vị thân (SBRT), liên quan đến việc tập trung nhiều chùm tia phóng xạ đồng thời tại một điểm trong cơ thể. Có hai loại xạ trị có thể dùng để điều trị ung thư biểu mô tế bào gan:

  • Xạ trị chiếu ngoài: Bệnh nhân sẽ nằm trên bàn trong khi máy xạ trị sẽ phát chùm tia phóng xạ vào những điểm cụ thể trên ngực hoặc bụng.
  • Xạ trị trong: Bác sĩ sẽ tiêm các hạt phóng xạ nhỏ vào động mạch máu đến gan. Các hạt phóng xạ này sẽ chặn hoặc phá hủy nguồn cung cấp máu cho khối u trong gan của bạn.

Phương pháp xạ trị hoàn toàn có thể gây ra tính năng phụ như buồn nôn, nôn hoặc stress, nhưng những triệu chứng này sẽ biến mất khi điều trị xong .
Xạ trị vmat

5.4 Hóa trị

Để điều trị ung thư, những bác sĩ thường bơm thuốc trực tiếp vào gan của bạn, hay còn gọi là ” hóa trị. ” Bác sĩ sẽ đặt một ống mỏng mảnh, linh động vào động mạch phân phối máu cho gan, và bơm một loại thuốc hóa học phối hợp với một loại thuốc khác giúp chặn động mạch. Mục tiêu là hủy hoại khối u bằng cách bỏ đói. Gan của bạn vẫn nhận được lượng máu thiết yếu trải qua một mạch máu khác .Bệnh nhân thường được hóa trị liệu ở những cơ sở ngoại trú, tức là bệnh nhân không cần phải ở lại qua đêm trong bệnh viện. Các tính năng phụ thương thường gặp là cảm xúc buồn nôn và nôn, chán ăn, sốt và ớn lạnh, đau đầu và yếu, hoàn toàn có thể dễ bị nhiễm trùng, bầm tím, chảy máu và căng thẳng mệt mỏi .

5.5 Tiêm ethanol qua da

Đầu tiên các bác sĩ sẽ thực hiện siêu âm để xác định vị trí của khối u, sau đó sẽ dùng kim nhỏ tiêm ethanol vào để tiêu diệt tế bào ung thư. Khi thực hiện thao tác này, bệnh nhân sẽ được gây tê tại chỗ để tránh cảm giác đau đớn.

5.6 Điều trị đích bằng thuốc

Điều trị đích bằng thuốc là phương pháp dùng thuốc để tấn công các điểm cụ thể trong các tế bào ung thư để làm chậm sự tiến triển của bệnh ở những người bị ung thư gan tiến triển. Liệu pháp này cũng có tác dụng ngăn chặn sự phát triển mạch máu mới hoặc protein giúp các khối u phát triển.

Các tính năng phụ hoàn toàn có thể gồm có : căng thẳng mệt mỏi, phát ban, giảm sự thèm ăn, tiêu chảy, đau, chảy máu, phồng rộp bàn tay và viêm dạ dày hoặc ruột .

5.7 Liệu pháp miễn dịch

Liệu pháp miễn dịch có thể là một lựa chọn để điều trị ung thư gan tiến triển. Các bác sĩ sẽ sử dụng các loại thuốc kích thích hệ thống miễn dịch của bệnh nhân để nó đi tìm và tiêu diệt các tế bào ung thư. Thuốc miễn dịch trị liệu được gọi là chất ức chế sự phát triển tế bào u. Các tác dụng phụ của phương pháp này có thể bao gồm: mệt mỏi, sốt, phát ban, giảm cảm giác thèm ăn, đau và phản ứng tự miễn liên quan đến phổi, gan, ruột, thận và các cơ quan khác.

Đối với 1 số ít người, điều trị làm cho ung thư khỏi trọn vẹn. Nhưng so với những người khác, ung thư hoàn toàn có thể không mất trọn vẹn hoặc hoàn toàn có thể trở lại nên cần điều trị tiếp tục để trấn áp nó càng lâu càng tốt. Bệnh nhân hoàn toàn có thể không trấn áp được căn bệnh ung thư, nhưng hoàn toàn có thể tự trấn áp những lựa chọn về cách sống của mình. Tham gia nhóm tương hỗ hoặc nhu yếu chăm nom sau khi điều trị là việc thiết yếu để bệnh nhân duy trì đời sống mạnh khỏe và sáng sủa .
Những hiểu biết mới về liệu pháp miễn dịch ở bệnh nhân cao tuổi mắc ung thư phổi

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Bài viết tham khảo nguồn: mayoclinic.org, webmd.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *