Quần đảo Hoàng Sa – Wikipedia tiếng Việt

Author:
Đối với những định nghĩa khác, xem Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa (theo cách gọi của Việt Nam) hay quần đảo Tây Sa (giản thể: 西沙群岛; phồn thể: 西沙群島; Hán-Việt: Tây Sa quần đảo; bính âm: Xīshā qúndǎo, theo cách gọi của Trung Quốc và Đài Loan, còn được biết đến thông qua tên gọi quốc tế phổ biến bằng tiếng Anh là Paracel Islands) là một nhóm khoảng 30 đảo, rạn san hô, cồn cát và bãi đá ngầm ở Biển Đông, là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài Loan (Trung Hoa Dân quốc) và Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia đang duy trì sự kiểm soát cũng như quyền tài phán trên thực tế đối với toàn bộ quần đảo này.[3][4]

Quần đảo nằm cách miền Trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 hải lý. Chữ Hoàng Sa (黄沙[5]) có nghĩa là “cát vàng”.

Phía Nước Ta cho rằng những chính quyền sở tại của họ từ thế kỷ 17 – 18 đã tổ chức triển khai khai thác trên quần đảo hàng năm lê dài theo mùa ( 6 tháng ). Đến đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn ( Nước Ta ) với tư cách nhà nước đã chính thức xác lập chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo. Các hoạt động giải trí thực thi chủ quyền lãnh thổ của nhà Nguyễn được mở màn hoàn toàn có thể muộn hơn những triều đại Nước Trung Hoa nhưng với tỷ lệ mau hơn trong thế kỷ XIX : những năm 1803, 1816, 1821, 1835, 1836, 1837, 1838, 1845, 1847, 1856. Không chỉ là kiểm tra chớp nhoáng trên những đảo hoang nhỏ vô chủ rồi về, mà hoạt động giải trí chủ quyền lãnh thổ cấp nhà nước của nhà Nguyễn từ năm 1816 gồm có những việc làm khảo sát đo đạc thủy trình, đo vẽ map dài ngày, [ 6 ] xây xong sau nhiều ngày quốc tự trên đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, [ 7 ] cắm bia chủ quyền lãnh thổ, [ 8 ] [ 9 ] và cứu hộ cứu nạn hàng hải quốc tế. Một phần 3 cuối thế kỷ 19, do suy yếu và mất nước bởi Đế quốc Pháp xâm lược, hoạt động giải trí chủ quyền lãnh thổ của nhà Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bị gián đoạn .

Ngược lại, phía Trung Quốc và Đài Loan cũng cho rằng quần đảo Hoàng Sa kể từ khi bắt đầu thời kỳ nhà Hán (năm 206 trước công nguyên) đã là lãnh thổ của Trung Quốc, các triều đại về sau vẫn có các hoạt động phát triển, các nhà nước phong kiến Trung Hoa, thỉnh thoảng với tần suất vài lần trong nhiều thế kỷ hay một lần trong mỗi thế kỷ, đã gửi quân kiểm tra hay các đoàn sứ thần ngoại giao đi sứ ngang qua quần đảo này.[10] Đỉnh điểm của hoạt động tuần tra cấp nhà nước là vào đầu thời đại nhà Minh với các chuyến thám hiểm từ năm 1405-1433, đi ngang qua quần đảo, đến Đông Nam Á và Ấn Độ Dương (Ấn Độ và các nước Ả rập) của Trịnh Hòa. Sau thời Trịnh Hòa (năm 1433) đến cuối triều đại nhà Thanh (năm 1911), hoạt động tuần tra quần đảo này chỉ còn chủ yếu là do chính quyền địa phương của thành phố Quảng Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông) thực hiện,[11] các nhà nước Trung Hoa không còn lưu tâm đến lãnh vực hàng hải,[12] để các đảo, đá san hô ở biển Nam Hải (Biển Đông) trở về nguyên vẹn là các đảo hoang (荒島無居民).[13] Các cuộc tuần tra của chính quyền địa phương Quảng Châu trong thời Minh Thanh sau năm 1433 là: Cuộc tuần tra tại các đảo ven bờ Quỳnh Châu (Hải Nam) nằm trong Thất Châu Dương (phần đông bắc Biển Đông) của Ngô Thăng (吳昇) đầu thời nhà Thanh (năm 1710-1712), và cuộc tuần tra một ngày của Lý Chuẩn (năm 1909) cuối nhà Thanh.[11] Một cuộc đi sứ Anh Quốc ngang qua (nhìn thấy trên hành trình nội nhật trong 1 ngày) các đảo, đá, bãi ngầm san hô được cho là quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) năm 1876 của Quách Tung Đảo.[14] Trên quần đảo vẫn còn những di tích từ thời nhà Đường và nhà Tống.[11]

Vào đầu thế kỷ 20, Liên bang Đông Dương thuộc Pháp trấn áp quần đảo, nhưng đã mở màn có sự tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với chính quyền sở tại Trung Hoa Dân quốc. Sau đó, quần đảo rơi vào tay Đế quốc Nhật Bản và được gộp chung vào với Đài Loan thuộc Nhật trong quá trình 1941 – 1945. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về việc phân định những chủ quyền lãnh thổ mà Đế quốc Nhật Bản chiếm giữ, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đối tượng người dùng công bố chủ quyền lãnh thổ của nhiều bên tranh chấp : Liên hiệp Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines. Kết quả Hội nghị không công nhận chủ quyền lãnh thổ của vương quốc nào, những quần đảo được coi là vô chủ và càng gây ra tranh chấp kinh hoàng hơn sau này .Năm 1956, Nước Ta Cộng hòa tiếp nối Liên hiệp Pháp thực thi trấn áp 1 số ít đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, nhưng Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc đã đem quân trấn áp nửa phía Đông quần đảo từ trước đó vài tháng. Năm 1958, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ra công bố về hải phận, trong đó có khẳng định chắc chắn đảo Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đều thuộc về chủ quyền lãnh thổ của mình. Năm 1974, Hải quân Trung Quốc đánh bại Hải quân Nước Ta Cộng hòa, giành quyền trấn áp hàng loạt quần đảo Hoàng Sa. [ 15 ] [ 16 ]Chủ quyền so với quần đảo Hoàng Sa hiện nay vẫn đang trong thực trạng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa Nước Ta, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc ( Trung Quốc ) và Nước Trung Hoa Dân Quốc ( tức Đài Loan ) .

Địa lý tự nhiên

Lược đồ vùng biển quần đảo Hoàng Sa . So sánh quy mô diện tích quy hoạnh tự nhiên những đảo lớn loại nhất của 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Đông .Quần đảo Hoàng Sa là một tập hợp trên 30 đảo sinh vật biển, cồn cát, ám tiêu ( rạn ) sinh vật biển nói chung ( trong đó có nhiều ám tiêu sinh vật biển vòng hay còn gọi là rạn vòng ) và bãi ngầm thuộc biển Đông, ở vào khoảng chừng một phần ba quãng đường từ miền Trung Nước Ta đến phía bắc Philippines. Quần đảo trải dài từ 15 ° 43 ′ 10 ” đến 17 ° 06 ′ 53 ” Bắc và từ 111 ° 11 ′ 12 ” đến 112 ° 53 ′ 20 ” Đông, có bốn điểm cực bắc-nam-tây-đông lần lượt tại đá Bắc, bãi Ốc Tai Voi, đảo Tri Tôn và bãi Gò Nổi. Độ dài đường bờ biển đạt 518 km. Điểm cao nhất của quần đảo là một vị trí trên đảo Đá với cao độ 14 m ( hay 15,2 m ). Vùng biển Hoàng Sa trong biển Đông nằm trong vùng ” xích đạo từ “. [ 17 ] [ 18 ]

Về khoảng cách đến đất liền, quần đảo Hoàng Sa nằm gần Việt Nam hơn. Cụ thể, khoảng cách từ đảo Tri Tôn (15°47’B 111°12’Đ) tới đảo Lý Sơn (15°22’B 109°07’Đ) là 121,1 hải lý (224,3 km). Nếu lấy toạ độ của cù lao Ré (tên cũ của Lý Sơn) là 15°23,1’B 109°09,0’Đ từ bản tuyên cáo đường cơ sở của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ngày 12 tháng 11 năm 1982) thì khoảng cách đến bờ Lý Sơn thu ngắn lại dưới 121 hải lý. Ngoài ra, khoảng cách từ đảo Tri Tôn này đến mũi Ba Làng An (15°14’B 108°56’Đ) thuộc đất liền Việt Nam là 134,6 hải lý (249,3 km). Trong khi đó, khoảng cách từ đảo Hoàng Sa (đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa gần Trung Quốc nhất) đến Lăng Thủy giác (tiếng Trung: 陵水角; bính âm: Língshuǐ jiǎo) thuộc đảo Hải Nam của Trung Quốc là 142,5 hải lý (263,9 km). Khoảng cách từ đảo Hoàng Sa tới đất liền lục địa Trung Quốc tối thiểu là 235 hải lý. Nếu Trung Quốc dùng rạn đá ngầm (đá Bắc) làm chuẩn để đo đến bờ đảo Hải Nam tại Lăng Thủy giác thì khoảng cách là 111,9 hải lý (207,2 km), nhưng do đá ngầm không có giá trị như đảo trong việc chuẩn định ranh giới nên lý lẽ này không thuyết phục.[18]

Phân nhóm

Bản đồ quần đảo Hoàng Sa 2015 .Quần đảo Hoàng Sa được chia làm hai nhóm đảo là nhóm đảo An Vĩnh và nhóm đảo Lưỡi Liềm. Có tài liệu chia quần đảo làm ba phần, trong đó ngoài hai nhóm trên thì còn có một nhóm nữa gọi là nhóm Linh Côn .

Nhóm An Vĩnh

Nhóm đảo An Vĩnh (tiếng Anh: Amphitrite Group; tiếng Trung: 宣德群岛, Hán-Việt: Tuyên Đức quần đảo) bao gồm các thực thể địa lý ở phía đông của quần đảo (theo cách chia thứ hai: nhóm An Vĩnh ở phía đông bắc của quần đảo, nhóm Linh Côn ở phía đông và đông nam của quần đảo). Nhóm này bao gồm đảo Bắc, đảo Cây (đảo Cù Mộc), đảo Trung (đảo Giữa), đảo Đá, đảo Linh Côn, Đảo Nam, đảo Phú Lâm, đá Bông Bay, cồn cát Bắc, cồn cát Nam, cồn cát Tây, cồn cát Trung, hòn Tháp, đá Trương Nghĩa, bãi Bình Sơn, bãi Châu Nhai, bãi Gò Nổi, bãi La Mác (phần kéo dài phía nam của bãi ngầm chứa đảo Linh Côn)[19], bãi Quảng Nghĩa, bãi Thủy Tề, bãi Ốc Tai Voi.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, An Vĩnh là tên một xã vào thời chúa Nguyễn ( Đàng Trong ), thuộc huyện Tỉnh Bình Dương ( tức huyện Bình Sơn ) phủ Tư Nghĩa trấn Quảng Nam ( Tư Nghĩa tức phủ Hòa Nghĩa, đến thời nhà Nguyễn thì trở thành tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi ). [ 20 ] Sách Đại Nam thực lục ( tiền biên, quyển 10 ) ghi chép về xã này như sau :

Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát … chiều dài lê dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu … Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi …Quốc sử quán (triều Nguyễn)

Tên quốc tế của nhóm đảo là Amphitrite. Tên này là đặt theo tên một chiếc tàu Pháp trên đường đưa những giáo sĩ châu Âu sang Viễn Đông, gặp nạn rồi đắm ở vùng Hoàng Sa vào cuối thế kỷ 17. [ 21 ]

Nhóm Lưỡi Liềm

Nhóm đảo Lưỡi Liềm (tiếng Anh: Crescent Group; tiếng Trung: 永乐群岛, Hán-Việt: Vĩnh Lạc quần đảo) bao gồm các thực thể địa lý ở phía tây nam của quần đảo. Nhóm này còn được gọi là nhóm Trăng Khuyết hay nhóm Nguyệt Thiềm. Nhóm Lưỡi Liềm bao gồm đảo Ba Ba, đảo Bạch Quy, đảo Duy Mộng, đảo Hoàng Sa, đảo Hữu Nhật, đảo Lưỡi Liềm (là bãi đá trên có đảo Duy Mộng), đảo Ốc Hoa, đảo Quang Ảnh, đảo Quang Hòa, đảo Tri Tôn, đá Bắc, đá Chim Én (Yến), đá Hải Sâm, đá Lồi, đá Sơn Kỳ, đá Trà Tây, bãi Đèn Pha là bãi đá trên có đảo Hoàng Sa[22]), bãi Ngự Bình (là bãi ngầm nằm giữa đá Hải Sâm và cặp đảo Quang Hòa), bãi Xà Cừ,…

Khí tượng

Nhờ nằm giữa biển Đông nên quần đảo Hoàng Sa có khí hậu điều hòa, không quá lạnh về mùa đông, không quá nóng về mùa hè nếu so với những vùng đất cùng vĩ độ trong lục địa. Mưa ngoài biển qua nhanh, ở Hoàng Sa không có mùa nào ảm đạm lê dài, buổi sáng cũng ít khi có sương mù. Lượng mưa trung bình trong năm là 1.170 mm. Tháng 10 có 17 ngày mưa / 228 mm và là tháng mưa nhiều nhất. Không khí Biển Đông tương đối ẩm thấp hơn những vùng biển khác trên quốc tế. Ở cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa, nhiệt độ đều cao, ít khi nào độ ẩm xuống dưới 80 %. Trung bình vào tháng 6, nhiệt độ ở Hoàng Sa suýt soát 85 % .

Dữ liệu khí hậu của đảo Hoàng Sa
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 31.3 30.8 33.1 34.3 35.9 35.9 35.1 35.0 34.0 34.1 32.8 30.4 35,9
Trung bình cao °C (°F) 25.7 26.7 28.5 30.6 32.1 31.8 31.5 31.0 30.4 29.2 27.7 26.8 29,3
Trung bình ngày, °C (°F) 23.2 23.9 25.5 27.5 29.1 29.2 28.9 28.7 28.0 27.0 25.7 24.9 26,8
Trung bình thấp, °C (°F) 21.7 22.2 23.6 25.6 27.1 27.4 27.1 26.8 26.1 25.3 24.4 22.9 25,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) 14.9 18.1 18.7 19.1 21.7 23.0 22.4 21.0 21.6 21.2 18.9 13.8 13,8
Giáng thủy mm (inch) 13
(0.51)
12
(0.47)
23
(0.91)
44
(1.73)
74
(2.91)
117
(4.61)
225
(8.86)
162
(6.38)
216
(8.5)
241
(9.49)
152
(5.98)
30
(1.18)
1.308
(51,5)
% độ ẩm 80.6 81.6 81.5 81.8 82.2 84.2 84.6 85.3 85.7 84.5 83.8 81.9 83,1
Số ngày giáng thủy TB 7.5 5.5 4.8 2.4 6.7 7.1 7.8 9.0 11.4 13.3 14.0 7.9 97,2
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 207 226 248 276 298 245 238 245 193 223 191 199 2.788
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[23]

Bão Biển Đông là bão nhiệt đới gió mùa theo mùa, thường xảy ra những lúc giao mùa, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8. Gió mạnh đến 90 gút. Bão giảm đi từ tháng 9 nhưng cũng vẫn còn đến tháng 1. Tuy vậy, vào giữa mùa gió Đông-Bắc, bão làm biển trở nên động kinh hoàng hơn và lê dài trong nhiều ngày .Khi bão phát xuất từ đảo Luzon đi ngang Hoàng Sa thì binh sĩ Nước Ta Cộng hòa đóng trên đảo thấy những triệu chứng như sau : Trời oi, khí áp tụt xuống rất nhanh. Trên khung trời Open những mây cao tầng bay nhanh như bó lông ( cirrus panachés ). Vài giờ sau khung trời bị bao trùm bởi một lớp sương mù mây rất mỏng dính ( cirro status ), mặt trời chung quanh có quầng, rồi từ từ khung trời trắng nhạt. Sau đó đến lượt những mây ” quyển tầng ” thấp có hình vẩy cá ( cirro cumulus ). Rồi đến một lớp mây ” quyển tích ” đen hình như tảng đe tăng trưởng rất nhanh hình đe dày lên cao lối 3.000 m ( altostatus ), ” tằng tích ” [ Cumulus N. .. ], toàn bộ trở nên đen, u ám và sầm uất ; mưa mở màn rơi, gió thổi, khí áp xuống nhanh. Trần mây thấp dần xuống ( 100 m hay 50 m ), mây bay nhanh, gió thổi mạnh từng cơn, bão đã tới … Cường độ gió bão hoàn toàn có thể lối 50 gút đến 90 gút. Khi sấm sét đã Open thì hoàn toàn có thể coi như cơn bão đã qua …

Bão biển Đông
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tần suất bão 0,2 <0,1 <0,1 0,1 0,4 0,7 1,7 1,2 1,6 1,5 1,0 1,2

Danh sách thực thể địa lý Quần đảo Hoàng Sa

Lịch sử

Diễn biến cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ theo thời hạn : [ 24 ]

Quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan

Theo quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan, họ công bố có chủ quyền lãnh thổ truyền kiếp so với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :
Tuy Đài Loan và Trung Quốc có xích míc về mặt chính trị, nhưng cả hai đều nhất trí trong hoạt động giải trí công bố chủ quyền lãnh thổ và lan rộng ra tầm trấn áp tại quần đảo [ 33 ] Theo quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan, trận đánh năm 1974 không phải là hành vi lấn chiếm chủ quyền lãnh thổ Nước Ta mà là hành vi chính đáng nhằm mục đích tịch thu chủ quyền lãnh thổ của dân tộc bản địa Nước Trung Hoa tại quần đảo này .

Quan điểm của Nước Ta

Thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn

Trích đoạn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn nói về quần đảo Hoàng Sa . Bức Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ ( 皇清一統輿地全圖 ), trong Doanh hoàn chí lược, biểu lộ cực nam của Trung Quốc thời nhà Thanh là đảo Hải Nam ( tức Quỳnh Châu ( 瓊州 ) ) . Bản đồ Paracels Islands ( Hoàng Sa ) một phần của CochinChine ( Vương quốc An Nam ) năm 1827 . Journal of an Embassy from the Governor-general of India to the Courts of Siam and Cochin China: Exhibiting a View of the Actual State of Those Kingdoms“. Quần đảo Paracels được vẽ khá chi tiết và Crawfurd cũng ghi nhận chủ quyền của Gia Long.Bản đồ Xiêm và Nước Ta. Trích từ sách của John Crawfurd 1828 ) ” “. Quần đảo Paracels được vẽ khá cụ thể và Crawfurd cũng ghi nhận chủ quyền lãnh thổ của Gia Long . Hinter-Indien với lời ghi rõ quần đảo thuộc xứ “Annam”Quần đảo Hoàng Sa trên map của Đức năm 1876 vẽ vùng Viễn Ấnvới lời ghi rõ quần đảo thuộc xứ ” Annam “ Trang sách Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, viết về việc Minh Mạng cho kiến thiết xây dựng Hoàng Sa Tự trên đảo Phú Lâm quần đảo Hoàng Sa năm 1835 . Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền lãnh thổ ở Hoàng Sa ( 黄沙 ), ngày 13 tháng 7 năm Đinh Dậu niên hiệu Minh Mạng thứ 18 ( ngày 13 tháng 8 năm 1837 ) .
Hai trang sách Đại Nam Thực lục Chính biên ( 大南實錄 ), bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, viết về việc Nhà Nguyễn Việt Nam chính thức xác lập chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa với tư cách là một vương quốc, gồm : 01 trang ở Đệ nhất kỷ quyển 52 và 01 trang ở Đệ nhị kỷ quyển 122 .

  • Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.
  • Năm 1847-1848: Quản lý hành chính các đảo được duy trì nhằm giúp đỡ các cuộc hải trình và cũng để thu thuế ngư dân trong vùng.[47]

Vào thế kỉ thứ 18, bộ sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã có nói tới Hoàng Sa và Trường Sa. Cuốn sách này cũng kể việc người Việt Nam đã khai thác hai quần đảo này ngay từ thời Lê mạt. Các tài liệu khác nói về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa là bộ Hoàng Việt Địa Dư Chí được ấn hành vào năm Minh Mạng thứ 16 tức là năm 1834 và Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1782-1840). Sách Hoàng Việt địa dư chí có chép:

Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, các vua đời trước đặt ra đội quân giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xã An Vĩnh (Quảng Ngãi – huyện Bình Sơn – phủ Tư nghĩa) để luôn luôn canh giữ. Hàng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang theo lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ, vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ, vừa khai thác vật báu. Đến tháng 8 thì về, họ vào Cửa Eo (Thuận An) lên tâu nộp ở thành Phú Xuân.

Theo Việt Nam, các học giả Trung Hoa thế kỷ 19, khi viết và vẽ về địa lý các nước trên toàn thế giới cũng không cho rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc, thậm chí vài người họ còn ngầm thể hiện cho độc giả hiểu là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay là thuộc Việt Nam. Từ Kế Dư (1795-1873), học giả Trung Quốc đầu tiên thời cận đại thực sự “mở mắt nhìn ra thế giới” (khai nhãn khán thế giới) qua bộ sách lịch sư địa lý mang tên “Doanh hoàn chí lược” (瀛寰志略)ː đã vẽ bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh với cực nam là Quỳnh Châu (đảo Hải Nam), đồng thời trong tập Doanh hoàn chí lược/Á Tế Á Nam Dương tân hải các quốc (Châu Áː các nước ven bờ biển Nam Dương), phần viết về Việt Nam đề cập tới Vạn lý Trường Sa và Thiên lý Thạch Đường là những tên gọi người Trung Quốc thời đó gọi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, cũng viết rõ “Quỳnh (châu) là châu lớn địa đầu” Trung Quốc. Trong Doanh hoàn chí lược (1849), Từ Kế Dư viếtː “… 陳資齋《海國聞見錄》云:「安南以交趾為東京,以廣南為西京。由廈門赴廣南,取道南澳,見廣之魯萬山,瓊之大洲頭,過七洲洋,取廣南外之咕嗶羅山,而至廣南,計水程七十二更。赴交趾則由七洲洋西繞北而進,計水程七十四更。七洲洋在瓊州府萬州之東南,往南洋者必經之路。中國商舶行海,以望見山形為標識。至七洲洋,則浩渺一水,無鳥嶼可認,偏東則犯萬里長沙、千里石塘,偏西則溜入廣南灣。舟行至此,罔不惕惕。風極順利,亦必六七日方能渡過。七洲洋有神鳥,似海雁而小,紅嘴綠腳,尾帶一箭,長二尺許,名曰箭鳥。行舟或迷所向,則飛來導之。」…”[48](Trần Tư Trai《Hải quốc văn kiến lục》vân:「An Nam dĩ Giao Chỉ vị Đông Kinh,dĩ Quảng Nam vị Tây kinh。do Hạ Môn phó Quảng Nam,thủ đạo nam Áo,kiến quảng chi Lỗ Vạn sơn,Quỳnh chi đại châu đầu,quá Thất Châu Dương,thủ Quảng Nam ngoại chi Cô Tất La sơn,nhi chí Quảng Nam, kế thủy trình thất thập nhị canh。phó Giao Chỉ tắc do Thất Châu Dương tây nhiễu bắc nhi tiến,kế thủy trình thất thập tứ canh。Thất Châu Dương tại Quỳnh Châu phủ Vạn châu chi đông nam,vãng Nam Dương giả tất kinh chi lộ。Trung Quốc thương bạc hành hải,dĩ vọng kiến sơn hình vị tiêu thức。chí Thất Châu Dương,tắc hạo miểu nhất thủy,vô điểu dữ khả nhận,thiên đông tắc phạm Vạn lý Trường Sa、Thiên lý Thạch Đường,thiên tây tắc lưu nhập Quảng Nam loan。chu hành chí thử,võng bất dịch dịch。phong cực thuận lợi,diệc tất lục thất nhật phương năng độ quá。Thất Châu Dương hữu thần điểu,tự hải nhạn nhi tiểu,hồng chủy lục cước,vĩ đái nhất tiễn,trường nhị xích hứa,danh viết tiễn điểu。hành chu hoặc mê sở hướng,tắc phi lai đạo chi。」). Dịch nghĩa làː “…Trần Tư Trai 《Hải quốc văn kiến lục》nói: 《An Nam lấy Giao Chỉ làm Đông Kinh, lấy Quảng Nam làm Tây kinh. Từ Hạ Môn đến Quảng Nam, đi theo đường nam Áo, nhìn rộng ra là Lỗ Vạn sơn, Quỳnh là châu lớn địa đầu, vượt qua Thất Châu Dương, đi theo phía  ngoài Quảng Nam là Cô Tất La sơn, đến Quảng Nam, tính toán thủy trình hết khoảng 72  canh (giờ đi thuyền). Đi đến Giao Chỉ từ Thất Châu Dương tiến tới theo hướng tây vòng sang bắc, tính toán thủy trình hết khoảng 74  canh (giờ đi thuyền). Thất Châu Dương nằm ở phía đông nam của Vạn Châu thuộc phủ Quỳnh Châu, để đến Nam Dương ắt phải đi đường dọc xuống xuyên qua nó. Thuyền buôn Trung Quốc đi biển, trông vào hình non dạng đá (nổi  trên mặt biển) làm tiêu dẫn đường. Tới Thất Châu Dương, lênh đênh trên biển nước bao la, không hề thấy đảo (cồn) chim nào, lệch về phía đông ắt tới Vạn lý Trường Sa và Thiên lý Thạch Đường, lệch về phía tây chắc chảy vào vịnh Quảng Nam. Thuyền đi đến đó (Thất Châu Dương), gặp tại nạn vì không thận trọng cảnh giác. Gió rất thuận lợi, cũng sẽ phải mất 6 đến 7 ngày để có thể vượt qua nó. Thất Châu Dương có chim thần, giống như một con ngỗng (nhạn) biển (lông nhỏ), mỏ đỏ chân xanh, vòng đuôi như mũi tên, dài khoảng hai thước, nên gọi là tiễn điểu. Giúp người đi thuyền hoặc lạc đường trên biển, dò đường theo hướng chim bay.》…“[49] Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến đảo Hải Nam[50]. Một tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư bản đồ” xuất bản năm 1904 dưới thời nhà Thanh được tìm thấy gần đây cũng cho thấy quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc (bản đồ này ghi rõ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam.[51] Trung Quốc địa lý học Giáo khoa thư xuất bản năm 1906 viết: “Điểm mút của Trung Hoa ở Đông Nam là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, vĩ tuyến 18°13′ Bắc”[52].

Một trong những nghiên cứu mới nhất của Việt Nam được công bố về Hoàng Sa là luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Nhã, đề tài Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ ngày 18 tháng 1 năm 2003 (29 năm sau trận hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa) tại trường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Nhã nói: “Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc, có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi.”[53].

Thời Pháp thuộc

Bia chủ quyền lãnh thổ Hoàng Sa của Nước Ta thời Pháp thuộc dựng năm 1938 tại đảo Hoàng Sa của quần đảo Hoàng Sa, khẳng định chắc chắn chủ quyền lãnh thổ của Nước Ta trên quần đảo Hoàng Sa ( Paracels ) liên tục từ năm 1816 ( niên hiệu Gia Long thứ 14 ) đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của vương quốc An Nam ( thời độc lập, quốc hiệu Nước Ta ), cho đến thời gian dựng bia năm 1938 ( thời Pháp thuộc, Indochine française ) . Một số phiên bản map nước Đại Nam nhà Nguyễn mang tên Bản Quốc Địa Đồ ( 本國地圖 ), xuất bản trong nửa cuối thế kỷ 19, đều vẽ Bãi cát vàng ( Hoàng Sa chử, 黃沙渚 ) thuộc Đại Nam ( Nước Ta ) .

Giai đoạn Chiến tranh Đông Dương ( 1945 – 1954 )

  • Ngày 14 tháng 10 năm 1950: Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, do Bảo Đại đứng đầu.
  • Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tại hội nghị này, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận. Do tranh cãi giữa các nước có tuyên bố chủ quyền và xét thấy không nước nào có đủ chứng cứ pháp lý nên hội nghị San Francisco đã không công nhận chủ quyền của bất kỳ nước nào ở Hoàng Sa, quần đảo được xem là vô chủ, và văn kiện của hội nghị ký ngày 8 tháng 9 năm 1951 chỉ ghi về hai quần đảo là “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo”.

Giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)

Sắc lệnh 174 – NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định hành động Hoàng Sa là một phần của tỉnh Quảng Nam Thư chia buồn của đề đốc Trần Văn Chơn

Thời Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Nước Ta

Biển Đông với những khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa những nước

  • Ngày 2 tháng 7 năm 1976: Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.
  • Cùng với bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
  • Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam đều có công bố các Bạch thư về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Ngày 9 tháng 12 năm 1982: Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
  • Nghị quyết ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương.
  • Ngày 23 tháng 6 năm 1994; Quốc hội Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 có nghị quyết nêu rõ: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực”. Quốc hội nhấn mạnh: “Cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”.
  • Ngày 4 tháng 11 năm 2002: Tại Phnom Penh (Campuchia), Việt Nam cùng các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên biển và duy trì ổn định ở khu vực.
  • Ngày 21 tháng 06 năm 2012: Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 bỏ phiếu thông qua Luật Biển, gồm 7 chương, 55 điều. Ngay ở Điều 1 luật đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[78]

Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ

Bản đồ cổ của Trung Quốc thời nhà Tống ( 1136 ) cho thấy đảo Hải Nam là cực nam của chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc. ( Lãnh thổ Trung Quốc ( 1136 ) không gồm có những quần đảo trên biển Đông : Hoàng Sa, Trường Sa . Bản đồ của Mao Khôn ( 茅坤 ) ( thế kỉ 17 ), nhưng được cho là của Trịnh Hòa, có ghi địa điểm Vạn Lý Thạch Đường ( 万里石塘 ) mà Trung Quốc cho là quần đảo Hoàng Sa ngày này ( mà họ gọi là Tây Sa quần đảo ) .Quần đảo Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về món ăn hải sản nhưng không có dân bản địa sinh sống. Vào năm 1932, chính quyền sở tại Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Nước Ta liên tục nắm giữ chủ quyền lãnh thổ cho đến năm 1974 ( trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956 ). Trung Quốc chiếm giữ hàng loạt Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng thủy quân, lính thủy đánh bộ và không quân tiến công địa thế căn cứ quân sự chiến lược của Nước Ta Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa 1974. Đài Loan và Nước Ta cũng đang công bố chủ quyền lãnh thổ so với quần đảo này .

Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam.

Theo cơ quan chính phủ Nước Ta, có rất nhiều vật chứng điều tra và nghiên cứu độc lập khác cho thấy Hoàng Sa là của Nước Ta. Gần đây nhất đã phát hiện chứng cứ rất rõ ràng là sắc chỉ của triều đình nhà Nguyễn tương quan đến việc canh giữ quần đảo Hoàng Sa được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi, gìn giữ suốt 174 năm qua, nay trao lại cho Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh. Đây là sắc chỉ của vua Minh Mạng ( triều Nguyễn ), phái một đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 ( tức năm Ất Mùi, 1835 ). [ 79 ]Vào tháng 7/2012, báo chí truyền thông Nước Ta đưa ra dẫn chứng về chủ quyền lãnh thổ của Nước Ta so với những quần đảo ở Biển Đông đó là tấm map của Nhà Thanh xuất bản năm 1904 trong đó điểm cực nam của Nước Trung Hoa chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam mà không hề có Tây Sa hay Nam Sa mà Trung Quốc đang cố gắng nỗ lực chiếm giữ. [ 80 ] [ 81 ]

Tuy nhiên bên phía Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền bằng cách đưa ra các thông tin về một quần đảo ngoài khơi biển Nam Hải theo nhiều tài liệu xuất hiện từ rất sớm về như Nguyên sử (元史) hay Trịnh Hòa hàng hải đồ (郑和航海图). Trong bản đồ thời Trịnh Hòa phía Trung Quốc đưa ra nhằm chứng minh cho chủ quyền của Trung Quốc, họ cho rằng địa danh Vạn Lý Thạch Đường (万里石塘) là quần đảo Hoàng Sa ngày nay (塘/唐 chữ Hán nôm đều được dịch là “đường” hay “đàng“), điều này đã được nhiều tài liệu của Việt Nam phản bác lại[24], trong bản đồ này không hề tồn tại cái tên Tây Sa Quần Đảo (西沙群島).

Vào ngày 1 tháng 5 năm năm trước, Cộng hòa Nhân dân Nước Trung Hoa đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa dẫn tới việc nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra công bố phản đối, đồng thời tàu thuyền của hai vương quốc đã xảy ra 1 số ít va chạm .

Nhiều học giả quốc tế đã nghiên cứu về các các bằng chứng mà 2 bên đưa ra. Valencia & ctg (1999) cho rằng các bằng chứng của Việt Nam cũng giống như Trung Quốc – “thưa thớt, mang tính giai thoại và không thuyết phục”.

Quan điểm của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ không phải là một bên tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở quần đảo Hoàng Sa, cũng không công bố ủng hộ bất kể nước nào có tranh chấp ở quần đảo này, và Hoa Kỳ còn công bố tàu thuyền của những nước có quyền hàng hải tự do trên biển Đông tương thích với lao lý quốc tế. Năm năm nay Hoa Kỳ đã 4 lần thực thi quyền tự do hành hải trên những vùng biển của biển Đông gần những quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với những vương quốc khác, trong đó có Nước Ta .Nhiều lần Hoa Kỳ cho tàu đi gần quần đảo Hoàng Sa, dưới đây là list hoàn toàn có thể chưa rất đầy đủ :

  • Lần đầu tiên, ngày 31 tháng 1 năm 2016, tàu đi xuyên qua vùng 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn.[83]
  • Lần thứ hai, ngày 21 tháng 10 năm 2016, tàu đi bên ngoài 12 hải lý các quanh các đảo và đá thuộc quần đảo Hoàng Sa.[84][85]
  • Ngày 27 tháng 5 năm 2018, hai tàu chiến đi vào vùng 12 hải lý của các đảo Cây, Linh Côn, Tri Tôn, và Phú Lâm sau khi Trung Quốc điều oanh tạc cơ chiến lược H-6K diễn tập cất hạ cánh chớp nhoáng trên đường băng trên đảo Phú Lâm.[86]

Tháng 2/2021, tàu khu trục USS John S. McCain chạy ngang qua biển Đông, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố hành động này “đã khẳng định các quyền và tự do hàng hải trong vùng lân cận của quần đảo Hoàng Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế” và thách thức “những hạn chế bất hợp pháp và vô căn cứ đối với việc hải hành trên biển do Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam áp đặt”[87].

Tổ chức hành chính

Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, do nhà Thanh Trung Quốc in năm 1904, có ghi cực nam chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc năm 1904 là đảo Hải Nam .

Nước Ta

Nước Ta tổ chức triển khai quần đảo thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố TP. Đà Nẵng .

  • Ngày 15 tháng 6 năm 1932, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định số 156/SC, thiết lập đại lý hành chính ở Hoàng Sa (délégation administrative des Paracels).
  • Trước năm 1938, quần đảo Hoàng Sa thuộc phủ Quảng Nghĩa, tỉnh Quảng Nam.
  • Ngày 30 tháng 3 năm 1938, vua Bảo Đại ký đạo dụ chuyển Hoàng Sa về tỉnh Thừa Thiên.
  • Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié chia quần đảo thành hai đại lý hành chính gồm: délégation du Croissant et dépendences (đại lý Trăng Khuyết và phụ cận, đặt trụ sở tại đảo Hoàng Sa) và délégation de l’Amphitrite et dépendences (đại lý An Vĩnh và phụ cận, đặt trụ sở tại đảo Phú Lâm).
  • Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 175-NV đặt tên là xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
  • Nghị định số 709-BNV-HC ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long cũng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
  • Từ năm 1982 là huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và từ năm 1996 thuộc thành phố Đà Nẵng.

Huyện đảo Hoàng Sa, được xây dựng từ tháng 1 năm 1997, là một quần đảo sinh vật biển nằm cách thành phố Thành Phố Đà Nẵng 170 hải lý ( khoảng chừng 315 km ), gồm có những đảo : đảo Hoàng Sa, đá Bắc, đảo Hữu Nhật, đảo Đá Lồi, đảo Bạch Quy, đảo Tri Tôn, đảo Cây, đảo Bắc, đảo Giữa, đảo Nam, đảo Phú Lâm, đảo Linh Côn, đảo Quang Hòa, cồn Bông Bay, cồn Quan Sát, cồn cát Tây, đá Chim Yến. Huyện đảo Hoàng Sa có diện tích quy hoạnh : 305 km², chiếm 24,29 % diện tích quy hoạnh thành phố Thành Phố Đà Nẵng .Ngày 21 tháng 4 năm 2009, quản trị ủy ban nhân dân thành phố Thành Phố Đà Nẵng ký quyết định hành động chỉ định quản trị ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa nhiệm kỳ 2009 – năm trước so với ông Đặng Công Ngữ. Cùng ngày, thành phố TP. Đà Nẵng cũng tổ chức triển khai lễ chỉ định quản trị huyện đảo Hoàng Sa. Bộ máy cán bộ chuyên trách của chính quyền sở tại huyện đảo Hoàng Sa sẽ được thiết lập theo pháp luật của pháp lý Nước Ta. Trước mắt, chính quyền sở tại huyện đảo Hoàng Sa sẽ hoạt động giải trí tại trụ sở của Sở Nội vụ TP. Đà Nẵng. [ 88 ]Tại thành phố Hồ Chí Minh, một con đường dọc bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè được đặt tên là Hoàng Sa .

Trung Quốc

Về mặt hành chính, từ năm 1959, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy thuộc quần đảo Hoàng Sa vào Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa (西南中沙群岛办事处 Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ), đặt dưới quyền quản lý của khu hành chính Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông. Đến năm 1988, khi Hải Nam tách khỏi Quảng Đông để trở thành một tỉnh riêng biệt, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa, thay thế Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa. Đảo Phú Lâm là nơi đặt trụ sở các cơ quan của chính quyền nhân dân thành phố Tam Sa.[89] Ngày 18 tháng 4 năm 2020, Trung Quốc tuyên bố thành phố Tam Sa thành lập hai quận: quận Tây Sa và quận Nam Sa, trong đó quận Tây Sa quản lý quần đảo Hoàng Sa và bãi Macclesfield (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa), chính phủ nhân dân quận Tây Sa đóng trên đảo Phú Lâm.[90]

Trung Quốc công bố kế hoạch Open du lịch quần đảo vào năm 1997, lan rộng ra những cảng nhỏ ở đảo Phú Lâm và đảo Quang Ảnh. Tại Phú Lâm có một trường bay với đường sân bay dài 1.200 m .

Các tài liệu từ những nước khác

Bản đồ Trung Quốc năm 1740 là bản sao nguyên gốc của map d’Anville 1735, do Thủ tướng Đức Angela Merkel Tặng Kèm quản trị Trung Quốc Tập Cận Bình năm năm trước. Lãnh thổ nhà Thanh Trung Quốc ( đầu thời Càn Long khoảng chừng 1735 – 1740, thời cực thịnh, đương thời chúa Nguyễn Nước Ta khai thác Hoàng Sa ), không gồm có quần đảo Hoàng Sa ( Paracels ) . Bản đồ Trung Quốc năm 1737, do Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ, biểu lộ chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam mà không gồm có quần đảo Hoàng Sa ( Paracels ) .

Ngoài các sử gia bản xứ, một số các tác giả người Pháp cũng nói tới chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Vào năm 1836 Giám mục Taberd đã viết trong cuốn sách Địa dư, lịch sử và mô tả mọi dân tộc cùng với tôn giáo và phong tục của hội (Univer, histoire et description de tous les peuples, de leurs religion et coutumes) như sau:

Tôi không kể dài dòng về những đảo thuộc Nam Kỳ, nhưng chỉ nhận xét rằng từ 34 năm nay, người Nam Kỳ đã chiếm cứ nhóm quần đảo Paracels mà người An Nam gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa, thực là những hòn đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm đá xen lẫn với các bãi cát mà những người đi biển đều kinh hãi. Tôi không rõ họ có thiết lập cơ sở gì ở đó không, nhưng chắc chắn rằng Hoàng Đế Gia Long nhất định muốn mở rộng lãnh thổ của Hoàng Triều bằng cách chiếm quần đảo này, vào năm 1816, ngài đã long trọng trương lá cờ tại đây.

Trong tác phẩm Hồi ký về Đông Dương, tác giả Jean Baptiste Chaigneau ghi rằng vua Gia Long đã chính thức thu nhận quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816. Khi người Pháp đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Đông Dương, họ cũng tiếp tục lãnh nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa. Vào các năm 1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona và Iruezi Maru chở đồng cho người Anh bị đắm tại nhóm đảo An Vĩnh và bị người Trung Hoa đến đánh cướp. Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường vì có một số đồng được đem về bán tại đảo Hải Nam. Tuy nhiên, chính quyền nhà Thanh không chịu bồi thường, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của Trung Hoa.

Về phía Anh Quốc, J.W.Reed, W.king : Trung Quốc Sea Directory, 1868 của Hải quân Anh Quốc có ghi rằng những thuyền của Hải Nam hàng năm thường đến những đảo, mang theo gạo và những nhu yếu phẩm khác và trao đổi với ngư dân đang đánh bắt cá tại những đảo ; thuyền rời Hải Nam vào tháng 12 hay tháng 1 mỗi năm và sẽ quay trở lại khi có đợt gió mùa tây nam tiên phong. Trong ấn phẩm ” China Sea Pilot ” vào năm 1912, Hải quân Hoàng gia Anh Quốc đã diễn đạt về những hoạt động giải trí của ngư dân Trung Quốc tại 1 số ít nơi ở Trường Sa .Le Monde Colonial Illustre của Pháp từng đăng bài về sự kiện tháng 9 năm 1933, theo đó khi một tàu chiến Pháp khảo sát đảo Trường Sa Lớn vào năm 1930, họ thấy ba người Trung Quốc ở trên đảo. Khi Pháp đưa quân ra Trường Sa vào năm 1933, họ thấy toàn bộ những người trên những đảo là người Trung Quốc : bảy người ở Song Tử Tây, năm người ở Thị Tứ, 4 người ở Trường Sa Lớn, và những ngôi nhà tranh, giếng nước và một tượng thần do người Trung Quốc để lại ở Trường Sa Lớn và một biển hiệu chữ Hán trên đảo Ba Bình ghi lại ký hiệu của một kho dự trữ lương thực trên đảo. Atlas International Larousse xuất bản năm 1965 tại Pháp đã ghi tên ” Tây Sa ” ( Xisha ) và ” Nam Sa ” ( Nansha ) cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và trong dấu ngoặc đã bộc lộ chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc với hai quần đảo .Ngoài ra, cũng có nhiều map đã biểu lộ những quần đảo trên Biển Đông là chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc : ” Welt-Atlas ” do Cộng hòa Liên bang Đức xuất bản vào những năm 1954, 1961 và 1970 ; Át-lát quốc tế do Liên Xô xuất bản vào năm 1954 và 1967 ; Át-lát quốc tế do Romania xuất bản vào năm 1957 ; Oxford Australian Atlas và Philips Record Atlas xuất bản tại Anh Quốc vào năm 1957 và Encyclopaedia Britannica World Atlas xuất bản tại Anh Quốc vào năm 1958 ; ” Haack Welt Atlas ” do Cộng hòa Dân chủ Đức xuất bản năm 1968 ; Daily Telegraph World Atlas xuất bản tại Anh Quốc vào năm 1968 ; Atlas International Larousse xuất bản tại Pháp vào năm 1968 và 1969 ; map quốc tế thường thì của Institut Géographique National của Pháp vào năm 1968 ; Tập map Trung Quốc của Neibonsya tại Nhật Bản năm 1973 .

Sau sự kiện tháng 1 năm 1974, các học giả Trung Quốc tìm kiếm trong sách cổ, dựa vào các chi tiết liên quan đến biển Đông mà họ gọi là Nam Hải, để làm bằng chứng cho luận thuyết “các đảo Nam hải xưa nay là lãnh thổ Trung Quốc” do nhân dân Trung Quốc “phát hiện và đặt tên sớm nhất”, “khai phá và kinh doanh sớm nhất”, do Chính phủ Trung Quốc “quản hạt và hành sử chủ quyền sớm nhất”. Đầy đủ nhất có thể kể đến cuốn Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải nước ta do Hàn Chấn Hoa, một giáo sư có tên tuổi ở Trung Quốc và nước ngoài, chủ biên (1995-1998), xuất bản năm 1988. Các ấn phẩm về sau như của Phan Thạch Anh và nhiều học giả Đài Loan cũng chủ yếu dựa theo cuốn sách này.

Năm 1996, cuốn Chủ quyền trên quần đảo Paracels và Spratlys của bà Monique Chemilier Gendreau, một luật sư, giáo sư có tên tuổi ở Pháp và nước ngoài đã làm cho các học giả Trung Quốc bối rối và họ đã mời bà sang Bắc Kinh nói là để cung cấp thêm tài liệu. Bà đã đến Bắc Kinh và đối mặt với mấy chục học giả Trung Quốc. Bà cho biết học giả Trung Quốc không giải đáp được những vấn đề do bà đặt ra, không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào có sức thuyết phục.

Ngày 3 tháng 9 năm 1993, trong bài đăng trên tạp chí Window (Hồng Kông), tác giả Phan Thạch Anh đưa ra sự kiện quần đảo Nam Sa được sáp nhập vào đảo Nam Hải năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường (789) và thủy quân đời nhà Nguyên đã đi tuần quần đảo Nam Sa năm 1293, nhưng khi tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 4/1994 của Việt Nam khẳng định và chỉ rõ tài liệu liên quan đến hai sự kiện này không liên quan gì đến các quần đảo ở Biển Đông thì trong cuốn sách mới xuất bản về quần đảo Nam Sa năm 1996, tác giả Phan Thạch Anh đã không nhắc đến hai sự kiện này nữa.

Ngày 28 tháng 3 năm năm trước, trong tiệc chiêu đãi nhân chuyến thăm của quản trị Trung Quốc Tập Cận Bình tới Đức, thủ tướng Đức Angela Merkel đã khuyến mãi ngay quản trị Trung Quốc tấm map Trung Quốc thời nhà Thanh được cho là do họa sỹ người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ năm 1735 được in tại Đức. Bản đồ cổ này cho thấy rằng : vào thời cực thịnh của nhà Thanh Trung Quốc ( đầu thời Càn Long khoảng chừng 1735 – 1740 ), đồng thời tương tự với thời chúa Nguyễn Nước Ta tổ chức triển khai khai thác và quản trị Hoàng Sa, thì chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc cũng chỉ đến đảo Hải Nam về phía nam mà không gồm có quần đảo Hoàng Sa ( Paracels ) lẫn quần đảo Trường Sa. [ 91 ]

Ảnh vệ tinh

Vai trò của Hoàng Sa

Hiện nay, Biển Đông có vai trò quan trọng về phương diện kinh tế tài chính và quân sự chiến lược so với Trung Quốc, những nước Bắc Á và những vương quốc trong vùng Khu vực Đông Nam Á, gồm có Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào ( không có lãnh hải ), Malaysia, Myanma, Philippines, Nước Singapore, Vương Quốc của nụ cười và Nước Ta. Biển Đông còn là thủy đạo thông suốt Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Mọi vận động và di chuyển bằng hàng hải giữa những vương quốc thuộc Vòng đai Thái Bình Dương với vùng Khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải và xuống châu Úc đều tiếp tục đi qua vùng biển này. [ 92 ] Hoàng Sa là một quần đảo nằm trên thủy lộ đó. Những tranh chấp căng thẳng mệt mỏi đã và đang xảy ra tại Hoàng Sa cho thấy việc trấn áp Hoàng Sa vô cùng quan trọng trong việc nắm quyền trấn áp thuỷ đạo quan trọng của Khu vực Đông Nam Á và của quốc tế. Điều này tác động ảnh hưởng đến quyền tự do hàng hải của tổng thể những vương quốc trên quốc tế chứ không chỉ tương quan đến quyền lợi riêng của những nước tham gia tranh chấp quần đảo Hoàng Sa. [ 93 ] [ 94 ]Ngoài ra, Biển Đông còn là nguồn cung ứng món ăn hải sản, dầu thô, và khí đốt rất đáng kể. Theo Cục tin tức Năng lượng Mỹ ( EIA ), ở Biển Đông chỉ có khoảng chừng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ feet khối khí đốt tự nhiên. Các mỏ dầu và khí đốt tại đây thường nằm trong những vùng chủ quyền lãnh thổ không có tranh chấp, gần bờ biển của những vương quốc xung quanh biển Đông nhưng Biển Đông góp phần tới 10 % sản lượng cá đánh bắt cá được trên toàn thế giới tạo ra giá trị hàng tỷ USD. [ 95 ]Việc trấn áp Hoàng Sa là lợi thế so với việc giành quyền trấn áp biển Đông [ 96 ] và những nguồn tài nguyên tại đây .

Đối với Nước Ta

  • Ngư nghiệp: Trước đây ngư dân và tàu bè Việt Nam vẫn tự do đánh cá và đi lại và trong vùng biển chung quanh quần đảo Hoàng Sa. Nhưng kể từ khi Trung Quốc tấn công lực lượng đồn trú của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm quần đảo này ngày 19 tháng 01 năm 1974, thì các hoạt động mang tính dân sự của tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa có thể bị lực lượng hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc đe dọa. Việc này đã dẫn đến một số sự kiện mà trước đây chưa hề xảy ra khi Việt Nam còn kiểm soát quần đảo Hoàng Sa. Điển hình là ngày 18 đến 20, tháng 12 năm 2004, hải quân Trung Quốc dùng tàu tuần dương tông vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến cho 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi chết, 6 người bị thương, đồng thời bắt giữ 9 tàu đánh cá và 80 ngư dân khác.[97] Ngày 27 tháng 6 năm 2006, 18 chiếc tàu đánh cá của Việt Nam neo đậu tại phía bắc quần đảo Hoàng Sa để tránh bão, thì bị một chiếc tàu lạ tấn công, cướp bóc, và xua đuổi không cho họ ở lại tránh bão.[98] Ngày 27 tháng 6 năm 2007, một tàu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc tấn công làm 6 người bị thương, khi họ vào tránh gió ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.[99] Sáng 27 tháng 9 năm 2009, 17 tàu của ngư dân Việt Nam (13 chiếc của xã An Hải, Lý Sơn; 4 chiếc của Bình Châu) giương cờ trắng chạy vào đảo Hữu Nhật tránh bão, đã bị lính Trung Quốc nổ súng xua đuổi, rồi bị cướp, đánh đòn, tra tấn [100]

Đối với Trung Quốc

  • An ninh quốc gia: Theo tác giả Sarabjeet Singh Parma, thuộc Viện nghiên cứu Quốc phòng Ấn Độ, thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa có thể là căn cứ để Trung Quốc thực hiện chiến lược chiếm dần từng nhóm đảo, sau đó là cả Biển Đông.[96] Tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã xây dựng một sân bay dài gần 3 km có khả năng tiếp nhận mọi loại máy bay quân sự. Từ đây, các máy bay chiến đấu hiện đại của Trung Quốc như JH-7 và SU-30 với tầm bay khoảng 3000 km có thể bao phủ toàn bộ biển Đông.[96] Hiện nay, nhà nước Trung Quốc đang tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng dân sự cũng như quân sự tại Hoàng Sa với tổng ngân sách dự kiến khoảng 1,6 tỷ USD.[101][102][103]

Ghi chú

Tham khảo

  • Sách “Hoàng Việt địa dư chí” do Phan Huy Chú biên soạn. Bản in vào mùa xuân, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897) hiện được lưu trữ tại thư viện Harvard – Yenching thuộc Đại học Harvard.
  • Nguyễn Nhã; Nguyễn Đình Đầu; Lê Minh Nghĩa; Từ Đặng Minh Thu; Vũ Quang Việt (2008), Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ
  • Monique Chemillier-Gendreau (2011) [1996], Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Sách tham khảo, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật
  • (1686) Do Ba Cong Dao (translated by Buu Cam), “Toan Tap Thien Nam Tu Chí Lo Do Thu “, Hong Duc Ban Do, Saigon, 1962.
  • (1776) Le Quí Don (translated by Le Xuan Giao), “Phu Bien Tap Luc”, Saigon, 1972.
  • (1821) Phan Huy Chu (translated by Nguyen Tho Duc), “Lich Trieu Hien Chuong Loai Chí”, Saigon, 1972.
  • (1837) Jean Louis TABERD, “Note on the Geography of Cochinchina”, Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, Calcutta, Vol. VI, 9/1837.
  • (1838) Jean Louis TABERD, “Additional Notice on the Geography of Cochinchina”, Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, Calcutta, Vol. VII, 4/1838, pp 317–324.
  • (1849) GUTZLAFF, “Geography of the Cochinchinese Empire”, Journal of The Geographical Society of London, vol the 19th, p. 93.
  • (1999) Vietnamese Claims to the Truong Sa Archipelago. Todd C. Kelly, August 1999.
  • (????) Dr. Phan Van Hoang’s historical and geographical analysis on Vietnam and China’s claims on the Paracels – Vietnamese language link
  • (2017) Bản mẫu:Cite enroute

Đọc thêm

Xem thêm

Liên kết ngoài

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

https://khetre.thuathienhue.gov.vn/?gd=4&cn=121&tc=4461