Tế bào xôma – Wikipedia tiếng Việt

Tế bào xômaKaryotype color chromosomes white background.pngỞ người : bộ nhiễm sắc thể của tế bào xôma có 23 cặp ( được tô màu khác nhau ) .Drosophila chromosomes.pngỞ ruồi giấm : bộ nhiễm sắc thể của tế bào xôma có 4 cặp ; cặp nhiễm sắc thể giới tính ở thành viên cái là XX, ở thành viên đực là XY .Chi tiếtTừ đồng nghĩaTế bào sinh dưỡngĐịnh danhLatinhCellula somaticaTHH1.00.01.0.00023Thuật ngữ giải phẫu[Chỉnh sửa cơ sở dữ liệu Wikidata]

Tế bào xôma hay tế bào sinh dưỡng[1] là bất kỳ tế bào nào của cơ thể sinh vật đa bào, ngoại trừ tế bào mầm, tế bào sinh dục và tế bào gốc.[2],[3],[4] Đặc điểm cơ bản của loại tế bào này là không phát sinh được giao tử hoặc không hình thành được tế bào khác loại với nó và ở sinh vật lưỡng bội thường có bộ nhiễm sắc thể tồn tại thành từng cặp, kí hiệu là 2n. Hơn 100 năm trước, người ta đã biết tế bào xôma chỉ nguyên phân, còn tế bào sinh dục mới giảm phân được và phát sinh ra giao tử.

Trong cơ thể sinh vật đa bào dù là tế bào của thực vật hay động vật, nấm, người ta đã phát hiện ra từ lâu là: tuyệt đại bộ phận cơ thể của chúng được cấu tạo từ các tế bào không có khả năng tạo thành giao tử; nghĩa là đối với cơ thể của mỗi sinh vật, những tế bào này chỉ tham gia vào các chức năng sinh dưỡng. Do đó, người ta còn gọi chúng là tế bào sinh dưỡng, tức là tế bào xôma.[5]

  • Thuật ngữ này dịch từ tiếng Anh somatic cell có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại σῶμα (xôma, nghĩa là “cơ thể”), tiếng Latinh là cellula somatica.
  • Tuy thuật ngữ tế bào xôma là cụm từ không thuần Việt, nhưng phản ánh xuất xứ ban đầu, cũng như gần gũi với ngôn ngữ nhiều nước khác, ngắn gọn, lại liên quan đến nhiều thuật ngữ Sinh học hiện đại, do đó nên sử dụng khái niệm này nhiều hơn. Nhiều khi, thuật ngữ này dùng ở dạng tắt là xôma dùng để mô tả ngắn gọn một số quá trình liên quan đến loại tế bào này, như: đột biến xôma, lai xôma, dòng xôma, biến đổi xôma. Tuy nhiên, trong trường hợp gọi tắt như thế, cần phân biệt với xô-ma của tế bào thần kinh là thuật ngữ dùng để chỉ thân nơ-ron.[6],[7]

Thường thì bất kể tế bào nào của sinh vật ta quan sát được bằng mắt thường đều là tế bào xôma. Chẳng hạn ở động vật hoang dã : tế bào cấu trúc nên da, tóc hay lông, xương, tế bào máu v.v và cả tế bào thần kinh ( nơ-ron ) đều thuộc loại này. Ngay cả những mô của cơ quan sinh dục ( như ống dẫn trứng, tinh hoàn … ) cũng không phải là tế bào sinh dục, mà là tế bào xôma. Trong cấu trúc của cơ quan sinh sản phái đẹp ( xem hình dưới ), thì mọi bộ phận được chú thích đều cấu trúc từ tế bào xôma, trừ trứng trong buồng trứng ( chú thích số 11 ) .Ở thực vật, nhiều người đã biết : rễ, thân, lá là cơ quan sinh dưỡng, chỉ có hoa là cơ quan sinh sản. Nhưng mọi bộ phận của hoa mà ta nhìn thấy đều cấu trúc từ những tế bào xôma, trừ đại bào tử ( trong lá noãn ) và tiểu bào tử ( tạo hạt phấn ) nằm sâu bên trong bàu nhuỵ và bao phấn .Trong khung hình con người, có khoảng chừng 220 loại tế bào xôma. [ 3 ]

So sánh với tế bào sinh dục[sửa|sửa mã nguồn]

Tế bào xôma

Tế bào sinh dục
Từ đồng nghĩa

Tế bào sinh dưỡng.
Tế bào khung hình .

Tế bào sinh sản.
Tế bào mầm .
Định nghĩa

Là bất kỳ tế bào nào của cơ thể sinh vật đa bào, ngoại trừ tế bào sinh dục và giao tử.

Là bất kỳ tế bào nào có thể phát sinh ra giao tử của sinh vật đa bào hữu tính.

Chức năng

Đơn vị cấu tạo hầu hết mọi bộ phận cơ thể. Cơ sở sinh trưởng.

Là nguồn hình thành giao tử. Cơ sở của bảo tồn và phát triển nòi giống của sinh vật.

Vị trí

Bao trùm cơ thể, tạo nên tất cả các mô bên ngoài và hầu hết các nội quan bên trong.

Nằm trong vùng hình thành giao tử của cơ quan sinh sản.

Khả năng

Không có khả năng tiến hành giảm phân để sinh ra tế bào đơn bội (n).

Có khả năng tiến hành giảm phân để sinh ra tế bào đơn bội (n), từ đó tạo thành giao tử.

Tính chu kì

Có chu kì tế bào.

Không có chu kì tế bào.

Đột biến

Đột biến trong tế bào này là đột biến xôma, không di truyền được cho thế hệ sau qua sinh sản hữu tính.

Đột biến trong tế bào có thể gây ra đột biến giao tử, di truyền được cho thế hệ sau qua sinh sản hữu tính.

Tiến hoá và chu kì[sửa|sửa mã nguồn]

  • Tế bào đầu tiên trong lịch sử hình thành sự sống – theo giả thuyết phổ biến nhất hiện nay – gọi là tế bào sơ khai, được hình thành từ lipôxôm (liposome) có thể xuất hiện cách đây 4 tỉ năm.[8] Qua quá trình tiến hoá rất lâu dài, trong tế bào sơ khai hình thành nên các phân tử có khả năng tự nhân đôi là RNA rồi được thay thế bởi DNA. Dần dần tạo nên tế bào chính thức là vi khuẩn đơn bội, rồi đến tế bào xôma, sau đó, trong quá trình tiến hoá tiếp theo mới hình thành nên tế bào sinh dục và giao tử.[9].
  • Tế bào xôma nào cũng có chu kỳ nếu nó chưa biệt hoá, gọi là chu kỳ tế bào hay vòng đời tế bào; trong đó 1 tế bào ban đầu (“mẹ”) sinh ra 2 tế bào mới (“con”), rồi “con” lớn lên trở thành “mẹ”… cứ thế tiếp diễn (xem hình trên).

Sinh sản, nhân dòng[sửa|sửa mã nguồn]

Quá trình sinh sản của tế bào xôma thực thi qua chính sách nguyên phân – cơ sở sinh trưởng ( lớn lên ) của mọi bộ phận và cả khung hình. Tuy nhiên, sự sinh sản này hướng dẫn đến sự phát sinh ra thế hệ tế bào con, chứ không phải sự phát sinh ra thế hệ khung hình con .Nhưng ở những loài thực vật có năng lực sinh sản vô tính, thì từ một nhóm tế bào xôma vẫn hoàn toàn có thể sinh ra khung hình con ( như người Nước Ta trồng mía từ hom, nhân giống cam bằng chiết cành ). Một số loài động vật hoang dã cũng có năng lực này ( như thuỷ tức mọc chồi ). Do đó, con của những loài này vẫn có năng lực nhận được đột biến của đời trước. Tuy nhiên, những hiện tượng kỳ lạ trên chứng tỏ nguyên phân là cơ sở của sinh sản sinh dưỡng, chứ không phải là đã chứng tỏ tế bào xôma đã tạo ra tế bào sinh dục và giao tử, ngoài những, thế hệ con của chúng không có bộ nhiễm sắc thể mới được tổng hợp mới .Trong những năm gần đây, khoa học văn minh – bằng kỹ thuật nhân bản vô tính – đã tạo những động vật hoang dã không qua sinh sản hữu tính như ếch và nổi tiếng nhất là cừu Dolly, được cho phép tạo ra một động vật hoang dã có bộ gen trên nhiễm sắc thể giống hệt mẹ, mà không qua sinh sản hữu tính, nên gọi là nhân dòng vô tính. Sự độc lạ gần như duy nhất là bộ gen ti thể được giữ lại trong hợp tử là của tế bào nhận, còn tế bào cho nhân không có .

Sự phát triển của khoa và kĩ thuật còn đã cho phép tạo ra các cơ thể con từ tế bào đơn bội, như nuôi cấy hạt phấn hoặc noãn chưa thụ tinh (công nghệ tế bào), thì cũng không có nghĩa là giao tử đơn bội của bố/mẹ có thể phát sinh cơ thể con, bởi vì còn phải qua khâu lưỡng bội hoá.

Biến đổi di truyền[sửa|sửa mã nguồn]

Trong quy trình tiến hoá của sinh giới, cũng như tác động ảnh hưởng của con người, thường gặp một số ít biến hóa về mặt di truyền của tế bào xôma, như thể đa bội ( 3 n, 4 n … ), thể dị bội … thì những tế bào sinh dưỡng thuộc những khung hình này vẫn được xem là dạng xôma dù số nhiễm sắc thể của chúng không phải là 2 n .Sự tăng trưởng của công nghệ sinh học đã được cho phép tinh chỉnh và điều khiển di truyền của tế bào xôma. Kỹ thuật di truyền tế bào xôma đã dẫn đến nhiều tranh luận, dù rằng Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về chỉnh sửa gen người đã đưa ra một công bố tương hỗ sửa đổi di truyền của tế bào xôma, vì những biến hóa không được truyền cho con. Về mặt triết lý, vì những tế bào này không phải là tế bào mầm, nên chúng sẽ không truyền được cho đời con đột biến mà chúng hoàn toàn có thể có. [ 10 ]

Tham khảo thêm[sửa|sửa mã nguồn]

Nguồn trích dẫn[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *