Đảo Ba Bình – Wikipedia tiếng Việt

Author:

Đảo Ba Bình (theo cách gọi của Việt Nam) hay đảo Thái Bình (theo cách gọi của Đài Loan) là một đảo san hô thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa. Đảo này nằm cách đảo Sơn Ca 6,2 hải lý (11,5 km) về phía tây và cách đảo Nam Yết khoảng 11 hải lý (20,4 km) về phía đông bắc.[3] Đây là đảo có diện tích tự nhiên lớn nhất của quần đảo Trường Sa.

Đảo Ba Bình là đối tượng người tiêu dùng, thực thể địa lý tranh chấp giữa Nước Ta, Đài Loan, Philippines và Trung Quốc. Hiện tại, Đài Loan đang duy trì sự trấn áp so với hàng loạt hòn đảo này .

Nhà sử học Nguyễn Nhã là người đặt tên Việt cho đảo này, lấy cảm hứng từ đoạn trích trong các tài liệu cổ như sách “Việt sử cương giám khảo lược”:

Bãi cát dăng từ phía đông mà sang phía nam, chỗ nổi lên chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn dặm. Ở trong có vụng sâu, thuyền hoàn toàn có thể đậu được. Trên bãi có nước ngọt. Chim biển có nhiều giống không biết tên. Có một cái miếu cổ, lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ ” Vạn lý ba bình “, không biết dựng từ đời nào .Việt sử cương giám khảo lược, quyển 4, 1877Nguyễn Thông (1827-1884),, quyển 4, 1877

Tài liệu xưa hơn nữa là vào tháng 6 âm lịch năm Ất Mùi niên hiệu Minh Mạng 16 (1835), Đại Nam thực lục chép rằng: “Dựng đền thờ thần [ở đảo] Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình 萬里波平” (cồn Bạch Sa [cát trắng] chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than thạch). Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội Thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mươi ngày làm xong rồi về”.[5]
Có nhiều giai thoại liên quan đến tên quốc tế của Ba Bình. Học giả Vương Hồng Sển từng kể rằng trong hai tuần ở Đà Lạt với Jean Decoux, một vị chuyên gia Pháp đã trả lời thắc mắc của ông về lý do đặt tên đảo là Itu Aba như sau: “Khi trước lựa tên đặt theo mật hiệu, có một thằng Tây nhè lựa danh từ trớ trêu “Chị Tư Chị Ba” là tên của hai người bồi của nó và vì nó đọc giọng Pháp Itu Aba mà thành danh luôn từ thuở”.[6][Ghi chú 1] Nguồn khác lại cho rằng tên Itu Aba xuất phát từ tiếng Mã Lai, nghĩa là “cái đó là gì?”.[7]
  • Đặc điểm: theo Niên giám Đài Loan (1993) thì đảo này dài 1360 m, rộng 350 m, cao 3,8 m và có diện tích là 0,4896 km², trong khi nguồn tài liệu khác cho rằng đảo này chỉ cao hơn 2 m và có diện tích 0,443 km².[8][9] Chu vi của đảo là 3,24 ÷ 4,09 km.[

    cần dẫn nguồn

    ]

  • Môi trường: có nhiều nước ngọt, đất đai màu mỡ nên có nhiều loại cây như chuối, đu đủ, dừa.[9]

Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer ký Nghị định số 4702 – CP sáp nhập 1 số ít thay máu chính quyền và những đảo nhờ vào trong quần đảo Trường Sa, trong đó có đảo Ba Bình, vào địa phận tỉnh Bà Rịa. [ 10 ] Pháp cũng thiết lập tại đây một trạm khí tượng mang số hiệu 48.919 do Tổ chức Khí tượng Quốc tế ( tiền thân của Tổ chức Khí tượng Thế giới ) cấp phép .Trong thời kì Chiến tranh quốc tế thứ hai, quân đội Nhật Bản chiếm đảo làm địa thế căn cứ tàu ngầm [ 11 ] và đặt dưới sự trấn áp của bộ chỉ huy đóng tại Cao Hùng thuộc Đài Loan ( thuộc địa của Đế quốc Nhật Bản ). Tuy nhiên, Nhật Bản đã ký Hiệp ước San Francisco và đồng ý từ bỏ mọi quyền so với quần đảo Trường Sa ( và Hoàng Sa ) vào năm 1951. [ Ghi chú 2 ]

Tháng 10 năm 1946, Pháp cho tàu chiến Chevreud đến đảo Trường Sa và Ba Bình, đồng thời dựng một mốc đánh dấu bằng đá tại đây.[11] Đến ngày 12 tháng 12 năm 1946, lợi dụng danh nghĩa giải giáp tàn quân Nhật, Trung Hoa Dân quốc cho tàu chiến Thái Bình đem quân đổ bộ lên đảo Ba Bình. Sau đó, do thất bại trong cuộc nội chiến nên Trung Hoa Dân Quốc phải tháo chạy ra đảo Đài Loan đồng thời rút quân khỏi đảo Ba Bình vào năm 1950.

Năm 1947, Tomás Cloma cùng những người khác ” mày mò ” ra nhiều đảo không người thuộc biển Đông. Vì là một người kinh doanh nên ông từng xem xét kiến thiết xây dựng nhà máy sản xuất sản xuất nước đá và đồ hộp trên đảo Ba Bình. Ngày 15 tháng 5 năm 1956, Cloma ra văn bản công bố quyền sở hữu so với 33 ” đảo ” ( có nơi ghi 53 ) nằm rải rác trên một vùng biển rộng 64.976 hải lý vuông. [ 12 ] [ 13 ] Biết được việc này, Đài Loan điều tàu đến Ba Bình. Thời điểm quân đội Đài Loan thực sự tái chiếm đảo Ba Bình chưa rõ ràng, bởi có rất nhiều thông tin khác nhau về thời gian Đài Loan điều tàu đến đảo Ba Bình vào năm 1956 ( ngày 20 tháng 5, tháng 7 [ 12 ], tháng 9 hoặc tháng 10 [ 14 ] ) và có nguồn tài liệu cho rằng từ năm 1971 thì Đài Loan mới thực sự đồn trú lâu bền hơn trên đảo. [ 15 ] [ Ghi chú 3 ]Ngày nay, đảo Ba Bình là một ” pháo đài trang nghiêm ” với nhiều công sự phòng thủ vững chắc và có một đường băng cho phép máy bay vận tải đường bộ C-130 Hercules lên xuống .

  • Cục Chính trị (2011), Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía nam (DK1), Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Hải quân (Việt Nam)

  • Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?, Maritime Briefings, 2, University of Durham, International Boundaries Research Unit, ISBN 978-1897643235 (tiếng Anh)
  • Sailing Directions 161 (Enroute) – South China Sea and the Gulf of Thailand (ấn bản 13), Bethesda, Maryland: National Geospatial-Intelligence Agency, 2011 (tiếng Anh)
  • Service hydrographique (1868), Annales hydrographiques: Recueil d’avis, instructions, documents et mémoires relatifs à l’hydrographie et à la navigation, 31, Service hydrographique (France) (tiếng Pháp)
  • Severino, Rodolfo C (2010), Where in the World is the Philippines? Debating Its National Territory, Institiute of South East Asian Studies, ISBN 978-981-4311-71-7 (tiếng Anh)
  • Vương, Hồng Sển (1992), “18 – Những việc gì xảy ra từ năm 1939 đến năm 1943”, Hơn nửa đời hư, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh

  • 山本, 信人 [Yamamoto, Nobuto] (2009), 東南アジアからの問いかけ, 慶應義塾大学出版会, ISBN 978-4766416558 (tiếng Nhật)
Tham khảo chung
Nguyễn, Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (luận án tiến sĩ), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

https://khetre.thuathienhue.gov.vn/?gd=4&cn=121&tc=4461