Giordano Bruno – Wikipedia tiếng Việt

Giordano Bruno

Giordano Bruno (Tháng 1 năm 1548 tại Nola – 17 tháng 2 năm 1600 tại Roma) là một tu sĩ dòng Đa Minh, nhà triết học, nhà toán học và nhà thiên văn học người Ý.[3] Bruno được biết đến với các lý thuyết mở rộng hơn nữa thuyết nhật tâm của Nicolaus Copernicus khi đề xuất rằng các ngôi sao chỉ là các mặt trời bên ngoài Thái dương hệ và có các hành tinh của chúng xoay quanh, và hơn nữa có khả năng rằng tại các hành tinh này thậm chí còn có thể hình thành sự sống. Ông cũng khẳng định rằng vũ trụ là bao la vô tận và do vậy không có thiên thể nào ở “trung tâm”.

Năm 1593, Bruno khởi đầu bị Tòa án dị giáo Roma xét xử do việc chối bỏ 1 số ít giáo lý Công giáo nền tảng ( như về Ba Ngôi, thiên tính của Đức Kitô, sự đồng trinh của Maria, sự đổi khác bản thể ). Quan điểm phiếm thần của ông cũng là một yếu tố bị chú ý quan tâm nghiêm trọng. [ 4 ] Tòa án đã kết tội và ông bị hỏa thiêu tại Roma vào năm 1600. Sau khi chết, ông trở nên nổi tiếng, đặc biệt quan trọng là với những nhà phản hồi thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 coi ông là một tấm gương quyết tử vì khoa học, [ 5 ] mặc dầu những học giả nhấn mạnh vấn đề rằng quan điểm thiên văn học nhiều nhất cũng chỉ là một tác nhân nhỏ trong những niềm tin thần học và triết học của Bruno dẫn đến vụ xét xử. [ 6 ] [ 7 ] [ 8 ]

Nói chung, học thuyết về triết học của Bruno kế thừa những tư tưởng của Democritus, Epicurus, Heraclitus,… Nó là sản phẩm của chủ nghĩa duy vật thời đại Phục hưng và sự tiếp nối, phát triển những gì mà Copernicus để lại trong điều kiện mới.[9]

Đối với Bruno, quốc tế này là quốc tế vật chất, vô tận và vĩnh viễn. Hệ Mặt Trời chỉ là một trong vô vàn những mạng lưới hệ thống của thiên hà. Trái Đất chỉ là một hạt bụi trong ngoài hành tinh bát ngát. Như vậy, quốc tế của nhà triết học Ý là một ngoài hành tinh không có điểm dừng. Nó đã vượt qua quốc tế của Copernicus bởi nhà thiên văn học vĩ đại này cho rằng quốc tế có số lượng giới hạn của riêng nó. Không chỉ có vậy, Bruno còn đi xa hơn khi cho rằng không chỉ có Trái Đất mà cả Mặt Trời cũng có hoạt động của riêng mình và khí quyển xoay chuyển cùng Trái Đất. Nếu ta nhìn vào thực trạng khi đó, ta thấy quan điểm của Bruno có ý nghĩa như thế nào. Cần biết rằng đến thế kỷ 18, cơ bản là con người mới tin rằng Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Tức là quan điểm Trái Đất có hoạt động đã bị thiếu tín nhiệm trong một thời hạn dài. Nếu hoạt động của Trái Đất còn bị hoài nghi như thế thì mấy ai tâm lý đến xem Mặt Trời và bầu khí quyển có hoạt động hay không .Bruno cũng đi theo trào lưu chống lại sự thống trị về tư tưởng của tôn giáo khi cho rằng những hiện tượng kỳ lạ tự nhiên có nguồn gốc từ vật chất. Vật chất tự thiết định mình bằng sự thống nhất giữa nguyên do và cơ sở sống sót của nó. Cơ sở sống sót của vật chất nằm ngay trong chính vật chất và đây là thứ thiết định nên cấu trúc bên trong của vật chất, còn nguyên do thì thiết định cấu trúc bên ngoài. Bruno chỉ ra rằngː

Cái lúc đầu là hạt lúa mì thì trở thành cây lúa mì, sau đó là bông lúa mì, sau đó là bánh mì, dịch ăn, máu, tinh dịch, động vật, phôi thai, con người, xác; sau đó là đất và đá. Do vậy, ở đây chúng ta nhận thức được một cái biến hóa về thành vạn vật, nhưng tự nó luôn luôn là bất biến. Như vậy thực sự thì không có gì bất biến, vĩnh cửu và xứng đáng với cái tên gọi bản nguyên, ngoài một mình vật chất. Với tư cách là cái tuyệt đối, vật chất bao hàm trong mình mọi hình thức mà nó thể hiện qua đó, không phải từ ai khác nào đó, mà sản sinh ra từ chính bản thân mình. Một cái gì chết đi ở đâu đó, thì đó chỉ là sự ra đời của cuộc sống mới

Tuy còn khiếm khuyết khi cho rằng vật chất hữu sinh ra đời trước vật chất vô sinh ( ta biết rằng thực tiễn phải là ngược lại ), Bruno cũng có một quan điểm đúng đắnː khi lý giải những hiện tượng kỳ lạ tự nhiên, đừng đi tìm những lực lượng tôn giáo nào đó mà hãy tìm ngay trong chính vật chất .Bruno còn nêu ra phạm trù cái duy nhất. Đối với phiếm thần luận, đó là Thượng đế sống sót dưới dạng tự nhiên. Trên trong thực tiễn, Thượng đế chỉ sống sót trên danh nghĩa vì mọi sự vật chỉ là những bộc lộ đơn cử của cái duy nhất. Nếu sự vật đổi khác không ngừng thì cái duy nhất lại cho thấy sự không bao giờ thay đổi. Ở đây, tuy có sắc tố của chủ nghĩa đa thần, Bruno đã tỏ ra mình là người trái chiều với tôn giáo cầm quyền khi đó vì rõ ràng, tư tưởng của ông mang sắc tố duy vật. ” Tự nhiên là Thượng đế trong mọi vật ” và nó không được phát minh sáng tạo bởi bất kể ai .

Bruno có những đóng góp không hề nhỏ cho sự phát triển của phép biện chứngː

  • Ông đưa ra tư tưởng về sự phù hợp giữa các mặt đối lập. Bruno cho rằng thế giới là sự phù hợp giữa cái tối thiểu và cái tối đa, cái này mất đi thì cái khác sẽ ra đời. Ông viếtː

Nếu suy nghĩ một cách chín chắn thì chúng ta sẽ thấy rằng tiêu diệt chẳng qua chỉ là phát sinh, phát sinh chẳng qua chỉ là tiêu diệt. Tình yêu là lòng căm thù, lòng căm thù là tình yêu. Rốt cục, căm thù là cái đối lập tức căm thù là cái thứ hai. Do vậy, về mặt thực thể và gốc rễ, tình yêu và căm thù, hữu nghị và thù hằn là cùng một cái

  • Như vậy, các mặt đối lập không chỉ bài trừ lẫn nhau mà còn thống nhất với nhau. Quá trình tiêu diệt và phát sinh là hai quá trình độc lập, nhưng tiêu diệt chỉ đơn thuần là sự chuyển hóa từ cái này sang cái khác. Trong quá trình nhận thức, con người chỉ nhận thức được một mặt trong mối quan hệ của nó với những cái đối lập với nó. Từ sự đối lập với căm thù, ta định nghĩa thế nào là tình yêu và ngược lại.
  • Kế thừa tư tưởng của Heraclitus, Bruno cho rằng tất cả mọi thứ đều tồn tại trong cái biến đổi. Tư tưởng về phát triển là sự tiếp nối nguyên tắc về sự phù hợp giữa các mặt đối lập.

Tuy nhiên, khi lý giải về hoạt động, nhà triết học lại cho thấy tư tưởng duy tâm khi cho rằng linh hồn là thứ tạo ra lực đẩy. Nó điều khiển và tinh chỉnh mọi sự vật tăng trưởng theo quy luật tất định .
Đây là học thuyết được Bruno kiến thiết xây dựng trên cơ sở học thuyết về nguyên tử của Democritus và toán học. Ông chỉ ra rằng về mặt vật lý, học thuyết này có giá trị vì nguyên tử là cái tối thiểu ( Đối với Bruno, có ba loại tối thiểuː điểm trong toán học, nguyên tử trong vật lý và đơn tử trong triết học ). Cái tối thiểu phải tương thích với cái tối đa. Cái tối đa là giới tự nhiên vô tận với toàn bộ những hình thức của nó. Vậy cái tối thiểu sẽ là đơn tử. Đơn tử là thành phần nhỏ nhất của triết học, có năng lực tiềm ẩn niềm tin. Nó là căn nguyên của tổng thể những sự vật trong thiên hà. Bruno có viếtː

Cái được sản sinh ra, cái sinh ra cái khác và cái là nguồn gốc của sự sản sinh bao giờ cũng về một thực thể. Nhờ đó, người ta không lấy làm lạ khi Heraclitus cho rằng mọi vật thật ra là một khối thống nhất, nhờ biến đổi nên khối thống nhất bao hàm tất cả.

Bruno tỏ ra cùng quan điểm với những đồng nghiệp đương thời khi khẳng định giá trị của con người được thể hiện thông qua nhận thức. Nhận thức là hướng tới chân lý, nhưng chỉ có một chân lý duy nhất là chân lý của triết học và khoa học. Còn nếu có cái thứ hai thì thật là hoang đường, phi lý.

Đối với ông, tự nhiên là đối tượng người tiêu dùng của nhận thức. Nhà triết học đã đưa ra nguyên tắc hoài nghi trong nhận thức. Theo quan điểm của Bruno, không nên dựa vào quá khứ khi phán đoán sự vật mà phải dựa vào lý trí của thực nghiệm để bảo vệ tính xác nhận của tri thức. Tri thức chân chính không phải là thứ của uy quyền và lòng tin mù quáng .Bruno đã chia quy trình nhận thức thành 3 giai đoạnː

  • Cảm tínhː Cảm giác sẽ là điều cần thiết chúng ta tiếp nhận chủ thể. Tuy nhiên, đó chỉ là bề ngoài của chủ thể đó.
  • Lý tríː Lúc này, con người đã phát hiện ra chân lý. Tuy nhiên, chân lý mới chỉ là một phần thôi, chưa bộc lộ hết. Nó giống như “ánh mặt trăng được phản chiếu bởi ánh mặt trời”.
  • Trí tuệ (hay còn gọi là intellectus)ː Lúc này chúng ta mới biết được chân lý đầy đủ là gì. Chính vì vậy, đây là đỉnh cao của nhận thức.

Dù có hạn chế, Bruno đã cho thấy nhiều điểm hài hòa và hợp lý trong nghiên cứu và điều tra về nhận thức luận. Về cơ bản, nhận thức luận của ông mang đặc thù duy vật .

  • De umbris idearum (Paris, 1582)
  • Cantus Circaeus (1582)
  • De compendiosa architectura (1582)
  • Candelaio (1582; kịch)
  • Ars reminiscendi (1583)
  • Explicatio triginta sigillorum (1583)
  • Sigillus sigillorum (1583)
  • La Cena de le Ceneri (1584)
  • De la causa, principio, et uno (1584)
  • De l’infinito universo et mondi (1584)
  • Spaccio de la Bestia Trionfante (1584)
  • Cabala del cavallo Pegaseo–Asino Cillenico (1585)
  • De gli heroici furori (1585)
  • Figuratio Aristotelici Physici auditus (1585)
  • Dialogi duo de Fabricii Mordentis Salernitani (1586)
  • Idiota triumphans (1586)
  • De somni interpretatione (1586)
  • Animadversiones circa lampadem lullianam (1586)
  • Lampas triginta statuarum (1586)
  • Centum et viginti articuli de natura et mundo adversus peripateticos (1586)
  • Delampade combinatoria Lulliana (1587)
  • De progressu et lampade venatoria logicorum (1587)
  • Oratio valedictoria (1588)
  • Camoeracensis Acrotismus (1588)
  • De specierum scrutinio (1588)
  • Articuli centum et sexaginta adversus huius tempestatismathematicos atque Philosophos (1588)
  • Oratio consolatoria (1589)
  • De vinculis in genere (1591)
  • De triplici minimo et mensura (1591)
  • De monade numero et figura (Frankfurt, 1591)
  • De innumerabilibus, immenso, et infigurabili (1591)
  • De imaginum, signorum et idearum compositione (1591)
  • Summa terminorum metaphisicorum (1595)
  • Artificium perorandi (1612)
  • Jordani Bruni Nolani opera latine conscripta, Dritter Band (1962) / curantibus F. Tocco et H. Vitelli

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *