Cholesterol – Wikipedia tiếng Việt

Cholesterol là một chất béo steroid, mềm, màu vàng nhạt, có ở màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể, và được vận chuyển trong huyết tương của mọi động vật. Nó được sản xuất hàng ngày trong gan (nguồn gốc nội sinh), mỗi ngày từ 1,5g – 2g. Nguồn gốc cholesterol ngoại sinh là từ việc ăn uống các chất mỡ động vật. Cholesterol hiện diện với nồng độ cao ở các mô tổng hợp nó hoặc có mật độ màng dày đặc, như gan, tuỷ sống, não và mảng xơ vữa động mạch. Cholesterol đóng vai trò trung tâm trong nhiều quá trình sinh hoá, nhưng lại được biết đến nhiều nhất do liên hệ đến bệnh tim mạch gây ra bởi nồng độ cholesterol trong máu tăng.

Cấu trúc hoá học của cholesterol

Lịch sử tên gọi[sửa|sửa mã nguồn]

Tên gọi xuất phát từ tiếng Hi Lạp chole- (mật) và stereos (rắn), vì nó được phát hiện lần đầu ở dạng rắn trong sỏi mật.

Sinh lý học[sửa|sửa mã nguồn]

Đường chuyển hoá HMG-CoA reductase

Cholesterol được tổng hợp hầu hết từ acetyl CoA theo đường HMG-CoA reductase ở nhiều tế bào / mô. Khoảng 20 – 25 % lượng cholesterol tổng hợp mỗi ngày ( ~ 1 g / ngày ) xảy ra ở gan, những vị trí khác có tỉ lệ tổng hợp cao gồm ruột, tuyến thượng thận và cơ quan sinh sản. Với một người khoảng chừng 68 kg, tổng lượng cholesterol trung bình trong khung hình khoảng chừng 35 g ( 35.000 mg ). Trong một ngày lượng nội sinh trung bình khoảng chừng 1000 mg và từ thức ăn trung bình khoảng chừng 200 đến 300 mg. Sự chuyển dời cholesterol trong khung hình có đặc thù tuần hoàn. Nó được bài tiết ở gan qua mật đến cơ quan tiêu hóa. Khoảng 50 % lượng cholesterol bài tiết được tái hấp thu ở ruột non vào hệ tuần hoàn. Phytosterols hoàn toàn có thể cạnh tranh đối đầu với cholesterol trong công tác làm việc tái hấp thu của ruột thế cho nên làm suy giảm độ tái hấp thu của cholesterol vào máu .
Cholesterol kém tan trong nước ; nó không hề tan và vận động và di chuyển ở dạng tự do trong máu. Thay vào đó, nó được luân chuyển trong máu bởi những lipoprotein ; đó là những ” va-li phân tử ” tan trong nước và bên trong mang theo cholesterol và mỡ. Các protein tham gia cấu trúc mặt phẳng của mỗi loại hạt lipoprotein quyết định hành động cholesterol sẽ được lấy khỏi tế bào nào và sẽ được cung ứng cho nơi đâu .Lipoprotein lớn nhất, hầu hết luân chuyển mỡ từ niêm mạc ruột đến gan, được gọi là chylomicron. Chylomicron có thành phần giàu triglyceride. Chúng chuyên chở triglyceride và cholesterol ( từ thức ăn và đặc biệt quan trọng là cholesterol được tiết từ gan vào mật ) đến những mô như gan, mỡ và cơ vân. Tại những nơi đó, lipoprotein lipase ( LPL ) thuỷ phân triglyceride trong chylomicron thành acid béo tự do ; những acid béo này được dùng để tổng hợp lipoprotein tỉ trọng rất thấp ( VLDL ) ở gan hoặc được oxi hoá sinh nguồn năng lượng ở cơ hoặc được dự trữ ở mô mỡ. Chylomicron sau khi mất triglyceride trở thành những hạt còn lại ( chylomicron remnant ) và được luân chuyển đến gan để được giải quyết và xử lý tiếp .VLDL là lipoprotein tương tự như như chylomicron, có thành phần triglyceride cao. VLDL được tổng hợp từ acid béo tự do có nguồn gốc từ chuyển hoá chylomicron ở gan hoặc nội sinh. Triglyceride của VLDL bị thuỷ phân bởi lipoprotein lipase mao mạch để phân phối acid béo cho mô mỡ và cơ. Phần lipid còn lại gọi là lipoprotein tỉ trọng trung gian ( IDL ). Sau đó IDL chuyển thành lipoprotein tỉ trọng thấp ( LDL ) bởi tính năng của lipase gan hoặc được gan bắt giữ qua thụ thể LDL .Các hạt LDL chuyên chở phần đông lượng cholesterol có trong máu, phân phối cholesterol cho tế bào. Thụ thể LDL ở tế bào ngoại biên hoặc gan bắt giữ LDL và lấy nó ra khỏi máu. Tế bào ngoại biên dùng cholesterol trong LDL cho cấu trúc màng cũng như để sản xuất hormone. LDL là lipoprotein tạo xơ vữa động mạch ; nồng độ LDL cao liên hệ với tăng rủi ro tiềm ẩn bệnh tim mạch. Các hạt LDL đặc, nhỏ chứa nhiều cholesterol ester ( phenotype B ) được cho là có tính sinh xơ vữa động mạch cao hơn do nhạy cảm với những biến hóa oxy hóa và thế cho nên có độc tính cho nội mạch so với những hạt LDL lớn, bộng ( phenotype A ). Ở người khoẻ mạnh, những hạt LDL có size lớn và số lượng ít. trái lại, nếu có nhiều những hạt LDL nhỏ sẽ dẫn đến rủi ro tiềm ẩn xơ vữa động mạch .Các hạt lipoprotein tỉ trọng cao ( HDL ) được tổng hợp và chuyển hoá ở gan và ruột. HDL sơ khai lấy cholesterol từ mô ngoại biên ; quy trình này được tương hỗ bởi men lecithin : cholesterol acyltransferase ( LCAT ) trong hệ tuần hoàn qua phản ứng ester hoá cholesterol tự do. Khi cholesterol được ester hoá, nó tạo gradient nồng độ và hút cholesterol từ mô ngoại biên và từ những lipoprotein khác và trở nên ít đặc hơn. Song song đó, protein vận động và di chuyển cholesterol ester ( cholesterol ester transfer protein ) lại mang cholesterol ester từ HDL sang VLDL, LDL và một phần nhỏ hơn sang chylomicron, làm giảm gradient nồng độ và được cho phép triglyceride chuyển dời theo chiều ngược lại, từ đó làm giảm ức chế LCAT do mẫu sản phẩm. Vì vậy, hầu hết cholesterol ester được tạo bởi LCAT sẽ được luân chuyển về gan qua phần còn lại của VLDL ( IDL ) và LDL. Đồng thời, HDL giàu triglyceride sẽ giải phóng triglyceride ở gan khi bị bắt giữ hoặc khi triglyceride được thuỷ phân bởi lipase gan nhạy cảm heparin ( heparin-releasable hepatic lipase ). Số lượng những hạt HDL to càng nhiều thì hệ quả sức khoẻ càng tốt ; và ngược lại, số lượng này càng ít thì càng có rủi ro tiềm ẩn xơ vữa động mạch. ( Các xét nghiệm lipid truyền thống cuội nguồn không cho biết được size và số lượng của những hạt LDL và HDL. )

Sinh tổng hợp cholesterol được điều hoà trực tiếp bởi nồng độ cholesterol nội bào, nhưng cơ chế hằng định nội môi có liên quan chưa được hiểu rõ ràng. Lượng nhập trong thức ăn tăng sẽ làm giảm lượng nội sinh và ngược lại. Cơ chế điều hoà chính là phát hiện cholesterol nội bào ở lưới nội sinh chất bởi protein SREBP (Sterol Regulatory Element Binding Protein 1 và 2). Khi có mặt cholesterol, SREBP gắn với 2 protein khác: SCAP (SREBP-cleavage activating protein) và Insig-1. Khi nồng độ cholesterol giảm, Insig-1 tách khỏi phức hợp SREBP-SCAP, cho phép phức hợp di chuyển vào bộ máy Golgi, ở đó SREBP bị cắt bởi S1P và S2P (site 1/2 protease), hai men này được hoạt hoá bởi SCAP khi nồng độ cholesterol thấp. SREBP đã bị cắt sau đó di chuyển đến nhân và đóng vai trò yếu tố phiên mã (transcription factor) gắn với “Yếu tố Điều hoà Sterol” (Sterol Regulatory Element) của một số gene để kích thích phiên mã. Trong số các gene phiên mã có thụ thể LDL và HMG-CoA reductase. Thụ thể LDL thu bắt LDL trong tuần hoàn, còn HMG-CoA reductase làm tăng sản xuất cholesterol nội sinh.

Phần lớn chính sách này được Michael S. Brown và Joseph L. Goldstein làm sáng tỏ vào thập kỉ 1970. Hai ông đoạt Giải Nobel về Sinh lý và Y khoa cho khu công trình của mình vào năm 1985 .

Lượng cholesterol trung bình trong máu thay đổi theo tuổi tác, thường tăng dần cho đến khi khoảng 60 tuổi. Nghiên cứu của Ockrene và cs cho thấy nồng độ cholesterol cũng thay đổi theo mùa ở người, cao hơn vào mùa đông.

Cholesterol là thành phần quan trọng của màng tế bào, nó giúp tính lỏng của màng không thay đổi trong khoảng chừng giao động nhiệt độ rộng hơn. Nhóm hydroxyl trên phân tử tương tác với đầu phosphate của màng còn gốc steroid và chuỗi hydrocarbon gắn sâu vào màng. Nó là tiền chất chính để tổng hợp vitamin D, nhiều loại hormone steroid, gồm có cortisol, cortisone, và aldosterone ở tuyến thượng thận, và những hormone sinh dục progesterone, estrogen, và testosterone. Các nghiên cứu và điều tra gần đây cho thấy cholesterol có vai trò quan trọng so với những synapse ở não cũng như hệ miễn dịch, gồm có việc chống ung thư .
Cholesterol được bài tiết từ gan vào mật và được tái hấp thu ở ruột. Trong 1 số ít trường hợp, khi bị cô đặc, như ở túi mật, nó kết tinh và là thành phần cấu trúc chính của hầu hết sỏi mật, bên cạnh sỏi lecitin và bilirubin ít gặp hơn .

Trong thức ăn[sửa|sửa mã nguồn]

Danh sách bên dưới liệt kê hàm lượng cholesterol trong 100 g thức ăn, cho 1 số ít loại thức ăn có nguồn gốc động vật hoang dã :

  • Anderson RG. Joe Goldstein and Mike Brown: from cholesterol homeostasis to new paradigms in membrane biology. Trends Cell Biol 2003:13:534-9. PMID 14507481.
  • Ockene IS, Chiriboga DE, Stanek EJ 3rd, Harmatz MG, Nicolosi R, Saperia G, Well AD, Freedson P, Merriam PA, Reed G, Ma Y, Matthews CE, Hebert JR. Seasonal variation in serum cholesterol levels: treatment implications and possible mechanisms. Arch Intern Med 2004;164:863-70. PMID 15111372.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

(Tiếng Anh)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *